Tuesday, October 12, 2010

Chữ Tu Trong Đạo Phật

Chữ Tu Trong Đạo Phật


Chắc ai cũng hiểu rằng, từ khi mới lọt lòng ra cho đến khi hơi thở cuối cùng, trong đời thường hưởng được mấy lần vui. Cơn vui vừa thoáng qua, cơn buồn lại kéo đến. Đã đành sanh, già, đau, chết là bốn đại hoạn, không ai tránh khỏi, mà những nổi đói nghèo áp bức, oán thù gặp gỡ, ân ái xa lìa, hoàn cảnh lôi kéo cũng đủ làm cho chúng sanh đau khổ vô cùng. Nước mắt ngập tràn cả đại thiên thế giới, mà vẫn còn dâng lên mãi nếu lòng tham lam dục vọng nơi mỗi cá nhân cũng như đoàn thể không được vùi dập phần nào; hành vi xấu xa độc ác, ích kỷ hại người không được sang bằng và tiêu diệt do lòng từ bi rộng lớn biết nghĩ đến mình, đến người theo công lý và chính đạo. Chúng ta chỉ ngó ngay vào cảnh tượng ngày nay cùng thấy rõ đó là biển nước mắt đau thương bởi cơn cuồng vọng của loài người gây tạo. Thế nên chúng ta tin chắc rằng tất cả đau khổ chỉ có một con đường ra là mọi người biết nhìn nhau bằng cặp mắt từ bi, hay nói một cách khác là người biết tu theo đạo chính đáng giác ngộ.

Xưa nay các bậc Thánh nhân, các vị đã giác ngộ như chư Phật, Bồ tát, không vị nào mà không trải qua con đường ấy; cho đến khi dạy người, dạy đời cũng chú trọng ở điều đó. Vậy bất luận người nào ở trong xã hội cũng cần lấy tu làm gốc, nếu không tự mình đã hư hỏng, mình đã làm tổn hại cho mình, thì mong giúp ích cho ai nữa?

Đời còn như thế, huống chi đạo Phật, một đạo chú trọng mục đích tự giác giác tha, tự lợi lợi tha hơn cả mà lại không quan tâm đền sự tu sao được. Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm rằng: "Như tuy lịch kiếp, ức trì Như Lai bí mật diệu nghiêm, bất như nhứt nhựt tu vô lậu nghiệp". Đại ý nói tuy nhiều kiếp học rộng nghe nhiều nhớ hết tất cả pháp môn của hằng sa chư Phật chỉ dạy, chẳng bằng một ngay chuyên tu nghiệp vô lậu xuất thế. Ấy là lời Phật khuyến cáo Tôn giả A Nan mà cũng là khuyến cáo cái tai hại không tu của chúng ta vậy. Nếu chỉ học mà không tu thì khác nào như người thuộc lòng tấm bản đồ rồi ngồi lỳ một chỗ, chẳng đến đâu được cả.

Thế thì biết tu là một điều cần yếu. Nhưng hiện nay, nhiều người trong hàng Phật tử chúng ta, cũng như một số đông ở ngoài vẫn còn ôm mối nghi ngờ sai lạc. Có người nghĩ rằng tu là một việc làm quá khó, phải xa gia đình, xã hội để ép mình trong một khuôn khổ hẹp hòi, bít mắt bưng tai trước mọi hoàn cảnh, vứt bỏ bao nhiêu ước mong khoái lạc mà tu hành ủy mị, hàng ngày nghĩ tưởng đến việc gì xa xăm huyền ảo, ỷ lại thần quyền để cầu mong tương lai trường sanh, bất tử hay hưởng quả phúc đời đời. Tu như vậy phỏng có ích lợi gì cho ai? Giả sử tu như vậy mà thành Thánh, thành thần, hưởng quả phúc thì lối tu chỉ thích hợp với hạng người thiếu nghị lực, hạng ông lão bà già!

Hạng người thứ hai thì trái lại, họ nghĩ rằng tu là một việc rất hay, là nền tảng cho nhân tâm thuần hậu, cho hòa bình an lạc, vững bền; song khi nào hòa bình đã lan khắp, sinh hoạt được mới có thì giờ nghĩ đến việc tu dưỡng; chứ nhằm lúc đao binh loạn lạc, đói khác tung hoành, chính là lúc phải ra sức dẹp loạn an dân, nổ lực làm lụng để vãn hồi sự no ấm, đợi bao giờ tâm thần ổn định mới lo đến chuyện tu. Những điều nghi hoặc đối với sự tu vẫn còn nhiều nữa, song tóm lại cũng không ngoài hai điều vừa kể trên. Cũng vì nghĩ như vậy, mà bây giờ hễ nghe nói chữ tu thì người ta tưởng tượng ngay một hình dáng yếu hèn, một việc làm quái dị lạc hậu, không phải thời.

Xét kỹ hai lối tưởng đó nhiều phần không đúng, song không sai mấy đối với hạng người mệnh danh là tu, mà kỳ thật áp dụng lắm điều không chính đáng! Nếu bây giờ muốn bổ cứu những khuyết điểm trên đây để làm nhiều lợi ích thiết thực cho khỏi phụ lòng tin Phật của chúng ta, thì tưởng cũng nên cùng nhau tìm hiểu rõ chữ "Tu" trong đạo Phật, trước để khỏi cái nạn xưng càn một khi mình không tu chi cả, sau để khỏi bị e ngại bởi những lời mỉa mai nông cạn có thể làm trở ngại bước đường tu tập chính đáng của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là ở đây chúng ta chỉ hiểu chữ "Tu" trong đạo Phật, chứ ngoài lối tu của đạo Phật ra, trên xã hội này còn bao nhiêu lối tu khác; mà tiếc vì phạm vi bài này không cho phép chúng tôi đem ra bàn cãi, chỉ có thể nói đại khái rằng các lối tu ấy đều chưa diệt tận nguồn gốc thống khổ, nên chưa phải là phương pháp đưa người đến chỗ giải thoát an vui chơn thật.

Thế nào là nghĩa chữ "Tu" trong đạo Phật?

Định nghĩa một cách tóm tắt thì tu nghĩa là sửa. Xấu xa sửa lại cho tốt đẹp, tà vạy sửa lại cho chính đáng, độc ác sửa lại cho hiền lành, mê mờ sửa lại cho sáng suốt... Như người ta thường nói ngọc có dũa mài mới thành đồ hữu dụng, người có học tập mới trở nên người hay, ấy đều là cắt nghĩa chữ "Tu" vậy. Có nhiều người hay nói: "Phật tức tâm, tâm tức Phật, tôi chỉ tu cái tâm cũng đủ". Mới nghe qua tưởng như hợp lý, song xét kỹ thì đó chỉ là câu nói bướng bỉnh để từ chối việc tu hành mà thôi. Nếu thử hỏi lại tâm vì sao phải tu và tu bằng cách nào, thì ít ai trả lời được. Thậm chí có người khi đã biết đạo cũng như khi chưa biết đạo, cứ giữ nguyên tánh xấu xa cố cựu, không chút gì đổi mới hay lo.

Đã đành rằng "Tâm tức Phật", nhưng hiện ngày nào còn làm chúng sinh thì quyết chắc tâm của ta còn mê lầm, vọng tưởng ích kỷ, biếng lười, chưa được như tâm Phật: sáng suốt, chân thật, rộng rãi, từ bi. Đứng về phương diện sự tướng sai biệt thì ta và Phật hai đàng mê ngộ, khổ vui khác nhau như trời và vực, không thể nói suông mà mong được giải thoát. Trái lại cần phải thành thật cố gắng kiểm điểm lại mình, nghiệm xét nơi mình để thấy rõ cái gì xấu xa, cái gì tà vạy, cái gì độc ác, cái gì mê lầm mà lần lần sửa đổi tu hành cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Trong lúc tu hành ấy, hễ sửa được bao nhiêu điều hư quấy, tức là diệt được bấy nhiêu nguyên nhân thống khổ, sự khổ sẽ tách dần ra mà sự an vui lần hồi phát hiện, bao giờ hoàn toàn thanh tịnh ấy là chứng đủ bốn đức Thường, lạc, ngã, tịnh; không bị điều chi làm hệ lụy. Cho nên Kinh có câu: "Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như Lai". Như Lai hay Phật là vị đã chuyển được mọi vật, bên trong không bị tánh tình ô nhiễm làm mờ tối, và bên ngoài không bị hoàn cảnh sắc, thanh, danh, lợi quyến rủ chi phối. Tự mình làm chủ mình, làm chủ hoàn cảnh.

Nếu bây giờ chúng ta muốn được an vui, thì phải tự chủ; mà muốn được tự chủ thì cần nương theo Phật pháp để sửa đổi hành vi, tánh tình, quan niệm hẹp hòi sai lạc đã lâu đời lâu kiếp bám chắc nơi chúng ta. Sửa đổi hành vi tức là sửa đổi những điều độc ác của hành động và lời nói. Thân thường hay sát hại, trộm cắp, dâm ô; Miệng thường hay nói dối, dèm pha, nịnh hót v.v... ấy là hành vi có hại mà ít ai tránh khỏi. Nếu chúng nó được bồi đắp, lan rộng ra hoài thì nhân loại chúng sanh càng bị xô mau đến chỗ tiêu diệt. Hãy xem như một nghiệp sát, mấy năm lại đây không nơi nào là không do nghiệp sát gieo họa gớm ghê, làm cho sự sống, một điều mật thiết quan trọng hơn cả của mọi vật, không còn chút gì bảo đảm. Đã bao giờ như ngày nay, toàn nhân loại chỉ sống trong hồi hộp lo âu, nơm nớp sợ hãi khi thấy mạng mình nhẹ hơn cát bụi bên vệ đường, không phút nào yên tâm với bàn tay tàn nhẫn của nghiệp sát đang hung hăng chực chờ dọa nạt. Vậy là chưa kể đến tai nạn các hành vi trộm cướp, nói dối v.v...cũng gieo họa ghê gớm không kém.

Nếu ai nấy cũng nhận chân sâu sắc các hành vi ác độc kể trên là nguyên nhân trực tiếp gây ra đau khổ giữa người và mình, vì gieo nhân sát hại thì hoặc cách này hay cách khác cũng phải gặt lấy kết quả bị sát hại. Để sửa đổi, tu hành diệt trừ dần đi mới có ngày sống an toàn trong hòa vui thân mật được. Đã sửa đổi hành vi cũng phải sửa đổi tánh tình, vì tánh tình xấu xa mới thật nguy hại nhiều hơn. Tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ là những tâm tánh xấu xa cố cựu của chúng sinh cũng sửa luôn.

Vẫn biết đã có thân thì ai lại không tham muốn sống còn, nhưng lắm người vì chất chứa lòng tham vô đáy, điều gì hay ho đều muốn thu góp về phần mình, chỉ muốn đời sống của mình được vinh quang sung sướng, đầy đủ, quý trọng hơn hết thảy mọi người, nên dù việc gì đê hèn hay độc ác mà hễ đưa lại lợi lộc về mình thì không bao giờ từ chối, mặc ai thiếu thốn, khổ não, kêu la, cũng không hề đoái nghĩ! Thậm chí xem tiền tài, danh vọng hơn trăm, ngàn, ức triệu tánh mạng sanh linh đồng loại chỉ vì tham chút lợi danh mà làm cho đời sống nhân loại bị điêu đứng, niệm tham lam vô hình mà tai hại không phải ít, ở trong gia đình có một kẻ tham, tham ăn chẳng hạn, thì sự sống của gia đình mất sự hòa thuận; đến giữa xã hội hễ lòng tham nảy nở mạnh mẽ ở đâu thì ở đấy không sao tránh khỏi cảnh tình xô xát thảm mục thương tâm; vì đã tham tất nhiên có sân, đã sân thì tất nhiên tranh giành xâu xé.

Than ôi! Một tánh tham đã làm cho ai nấy cháy ruột nung gan, huống còn thêm bao nhiêu tánh xấu xa khác nữa. Song, muốn sửa đổi tâm tánh xấu xa một cách dễ dàng đến tận gốc thì đồng thời phải sửa đổi quan niệm hẹp hòi ích kỷ.

Tất cả mọi vật đều sanh sanh, hóa hóa trên một bản thể chung cùng hòa hợp, không có sự vật nào được tồn tại ra ngoài bản thể chung cùng ấy. Chính chúng ta cũng phải nhờ sự liên quan hỗ trợ tất cả mà có ra. Vậy mà chúng sanh mê mờ, tự phân biệt, tưởng tượng chấp riêng một cái Ta, xây ranh giới mà chắn ngang giữa mình và mọi người, mọi vật; luôn luôn đặt cái Ta ra trước, lên trên, lấy cái ta làm định chuẩn cho mọi hành động, nói năng, suy nghĩ. Bởi vậy nên thường bị hẹp hòi, sai lầm, khổ sở. Suy rộng ra nào vinh nào nhục, nào thị nào phi, không có gì là tuyệt đối. Cái vinh của người này là cái nhục của người kia, cái vinh của người kia tức là cái nhục của người này. Ở đời cũng lắm chuyện để cho ta thấy rõ trường đời là nơi đấu tranh nhỏ hẹp ở trong sự phê phán xây nắn của cái Ta hẹp hòi giả dối. Vậy cần phải mở mang trí tuệ thật rộng rãi, phá lần quan niệm sai lầm chấp có bản ngã mới thấy đời rất rộng rãi để khoan hòa đối với mọi loài, mọi vật.

Như vừa nói ở trên, đó là sửa đổi hành vi hung ác, sửa đổi tánh tình xấu xa, sửa đổi quan niệm chấp có cái Ta hẹp hòi, ấy là nói về ngăn ngừa cái xấu, diệt trừ cái xấu, đừng để cho nó đâm chồi mọc nhánh ra hoài. Tu như vầy có thể cho là lối tu tiêu cực hơn là phát huy cái tốt, khuếch trương cái tốt, làm cho cái tốt càng ngày càng rộng rãi lớn lao. Hiện tiền nơi chúng ta không những có rất nhiều điều tà vạy ô nhiễm, mà cũng có rất nhiều điều hay, cần nên bồi đắp, tu dưỡng; như bố thí, nhẫn nại, khoan hòa, sáng suốt, bình đẳng, xét ra chẳng ai không có, nếu biết cố gắng vun bồi thì không việc lợi ích gì mà chúng ta không làm được.

Tóm lại hai phương diện tu hành trên, một đàng lo diệt trừ cái tánh hại người hại mình, một đàng lo cái tánh lợi mình, lợi người. Đã nhận thấy lòng tham lam có hại mà lo diệt bớt lòng tham là tu, diệt trừ lòng giận là tu, diệt trừ lòng kiêu mạn, ích kỷ là tu. Trái lại nhận thấy bố thí là hay, chăm làm bố thí là tu, từ bi cứu vật là tu, khoan hòa rộng rãi là tu. Cho đến bất luận gì hành động tốt đẹp, có nhiều lợi ích cho người mà cố gắng quên mình để thực hành theo cũng đều gọi là tu cả. Tu như vậy đâu có phải là hẹp hòi hay nhu nhược, tu như vậy đâu phải là việc riêng của một nhóm người nào hay của một thời đại nào, chỉ vì có nhiều người chưa hiểu chữ "Tu" có một phạm vi rộng rãi đó, nên tưởng rằng tu là việc chuyên môn của người tu sĩ, của kẻ chán đời, ẩn dật, hay của hạng môn đồ đạo này hoặc đạo khác mà thôi, ngoài ra không liên quan với đại đa số người còn đang lăn lộn, chống chọi, hoạt động sống với đời sống không xa thực tế hơn. Ôi, đâu biết rằng cái quan niệm sai lầm ấy không khác nào cái quan niệm của mấy người tưởng phép vệ sinh là phạm vi chuyên môn của mấy ông Thầy thuốc, hay của mấy người đã mắc bệnh truyền nhiễm.

Đành rằng phương diện điều trị thân xác có nhiều điều ngóc ngách khó khăn mà Thầy thuốc phải gia công tầm cứu, phải cần cho mình một hoàn cảnh sạch sẽ hợp vệ sinh hơn, nhưng trong hạng người không phải Thầy thuốc mà không cần biết vệ sinh, tự do ăn nhớp ở nhúa thì không chỉ tai hại cho mình, còn lây sang mọi người xung quanh, khiến họ phải sống chung trong một cảnh ngộ nguy hiểm. Phương diện trị thân xác đã vậy, thì phương diện cải tạo tinh thần không kém chi. Muốn diệt hết bao nhiêu tâm niệm xấu xa còn lại, và phát huy tất cả tâm niệm tốt đẹp rộng rãi thêm lên lại càng rất khó, nếu không phải là người có quyết tâm với mục đích ấy, nếu không có một hoàn cảnh thuận tiện cho sự tu hành thì khó mong kết quả hoàn toàn. Bởi vậy trong đạo Phật các vị Tăng già, các hàng tu sĩ phải xuất gia để bớt ngoại duyên phiền nhiễu, phải ở nơi nhàn tịch mới thấy rõ nguồn gốc sâu xa của tội lỗi mà gội rửa tiêu trừ. Nhưng nếu hiểu thêm rằng không phải là chỉ mấy vị ấy mới tu được, mấy vị ấy mới cần tu, mà tất cả các hạng người ở vào địa vị nào trong thời loạn cũng như thời bình, đều có thể tu, đều cần nên tu cả; nếu không tu tức là tự do để cho thói tham lam, bóc lột, ích kỷ hại người đứng lên làm chủ, gây tai ương không bờ, không bến.

Vậy ta có nên xem chuyện tu là việc ngoài phận sự của mình không? Ta có thể không nhận rõ nghĩa chữ "Tu" được không? Hãy nên nhận chân cho rõ, xem đó là một phương châm của đời sống thật thà mà không trao đưa cho ai cả, chỉ tự mình gắng thực hành lấy và khuyên lơn người khác biết mà thực hành, để cùng nhau xây dựng nên một cảnh sống yên vui, bền vững tạo cảnh Cực Lạc giữa Ta bà này. Nếu được như vậy tức là đã hiểu đã thực hành đúng nghĩa chữ " Tu" trong đạo Phật.

Sống trong hiện tại

Sống trong hiện tại


Tất cả chúng ta đều bắt đầu cuộc hành trình vào tâm linh, cuộc hành trình để khám phá và thám hiểm xem "ta là ai?, ta là gì?". Bước đầu tiên thật khó khăn trong nghững ngày đầu tiên hành thiền chúng ta thường dao động buồn ngủ chán nản, lười biếng hoài nghi, và còn có lúc cảm thấy ân hận: tại sao ta lại đi hành thiền? Chuẩn bị và quyết định bỏ ra một thời gian để thanh lọc tâm không phải là chuyện dể dàng, không ai có thể hành thiền thay cho ta. Chúng ta phải tự hành thiền lấy, hãy luôn luôn chánh niệm chú tâm vào những gì đang diễn ra, không có gì huyền bí cả, Việc hành thiền thật đơn giản, trực tiếp và thường đến mục tiêu nhưng phải bỏ công ra mới được. Ðó là ý nghĩa của thiền, bước đầu tiên thật khó, khám phá tâm linh là một công trình tìm hiểu hiếm hoi và quý giá. Hãy bình tâm và kiên nhẫn trong những bước đầu tiên khó khăn này, hãy tận dụng cơ hội hành thiền đừng bỏ phí thì giờ, đừng nghĩ rằng mình đã làm đủ.

Hạnh phúc cao nhất
Hạnh phúc cao nhất là hạnh phúc của sự quán chiếu nội tâm, thấy rõ diễn tiến của sự vật. Người nào với tâm đơn sơ mộc mạc, biết thưởng thức rằng mỗi một phút giây đều tươi mát đều mới mẽ, sẽ hưởng hạnh phúc lớn lao, niềm hỷ lạc to lớn trong hiện tại, sẽ đến từ một cái tâm đơn giản mộc mạc không điều kiện, nhận biết trực tiếp không xuyên qua sự suy nghĩ. Những ngày đầu tiên của một khoá thiền có vẻ khó khăn vì sự tập trung tâm ý chưa phát triển. Leo núi cần có sức mạnh thể chất. Nếu không đủ sức mạnh thì ngay từ lúc đầu, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi không thoải mái nhưng khi cơ thể bắt đầu mạnh hơn, việc leo núi sẽ dễ dàng hơn. Việc hành thiền cũng vậy, khi sự tập trung tâm ý ngày càng mạnh thì việc an trụ tâm sẽ bớt khó khăn hơn Thực hành và hiểu biết giáo pháp là một điều rất hiếm hoi và quý giá, ít người có được cơ hội này. Phần lớn chúng ta đang chạy quanh một vòng lẫn quẩn được lèo lái bởi si mê và tham ái, chúng ta không biết rằng chúng ta có đủ khả năng để thoát khỏi vòng luân hồi, ái dục và sân hận đó. Tham ái và ngũ dục làm cho tâm náo động và hổn loạn. Khi biết xã bỏ, tâm sẽ nhẹ nhàng không còn rối loạn căng thẳng, thoát khỏi mọi điều kiện không bị chìm đắm vào dục lạc ngũ trần.

Phát triển trí tuệ qua việc hành thiền là kinh nghiệm sự vô thường biến đổi trong chúng ta. Nhờ kinh nghiệm được sự vô thường, chúng ta có thể xã bỏ, không dính mắc vào các chuyển biến của thân và tâm. Có ai dám chắc rằng cơ hội hành thiền sẽ đến với mình lần nữa? Ðây là một dịp hy hữu, đây là chốn lý tưởng để chúng ta thám hiểm và khám phá chính mình, đừng bỏ lở cơ hội. Việc chúng ta đang làm là tự tìm hiểu mình. Ðây là một việc làm cao quý và thánh thiện, đây là việc loại trừ phiền não trong tâm, tham lam sân hận si mê. Ðây là việc khó khăn và hiếm hoi và đòi hỏi sự hoàn mỹ, hoàn mỹ là đào luyện tâm, tạo cho tâm có đặc tính luôn luôn tĩnh thức trong mọi lúc.

Ðừng kiểm soát hay thúc ép hơi thở. Chỉ cần chú tâm ghi nhận phồng xẹp của bụng. Chỉ chú tâm vào chuyển động của bụng, Ðừng tưởng tượng, đừng tạo ra một hình ảnh nào trong tâm. Hãy ghi nhận một cách khách quan mọi diễn biến của chuyển động. Nếu vọng tâm phát khởi, hãy ghi nhận rồi nhẹ nhàng đưa tâm về. Dầu cho suốt giờ bạn chỉ làm công việc đưa tâm trở về đề mục chính mỗi khi nó đi ra ngoài thi bạn cũng đã sử dụng trọn vẹn thời giờ của mình. Sự phồng xẹp có thể đôi lúc dài, đôi lúc ngắn, đôi lúc rõ, đôi lúc mờ, đôi lúc sâu, đôi lúc cạn, dầu thế nào đi nữa thì hãy luôn luôn nhớ rằng đây không phải là việc tập thở mà là bắt đầu tập tĩnh thức. Ðiều quan trọng là phải đào luyện cho mình có sự tĩnh thức đều đặn trong mọi lúc, từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ. Vừa choàng dậy là tâm nằm ngay ở phồng xẹp, rồi tiếp tục chánh niệm các tác động khác, ngồi dậy, bước xuống giường, súc miệng, rửa mặt, ăn điểm tâm, trước khi đi ngủ hãy chú tâm vào phồng xẹp cho đến khi rơi vào giấc ngủ. Ðây là một loại chú tâm đem lại lợi ích lớn lao trong việc hành thiền.

Nếu nghĩ rằng chỉ có lúc ngồi và đi mới là hành thiền, còn lúc nghỉ thì không quan trọng, thì bạn đã làm cho việc hành thiền gián đoạn và mất trớn. Cần phải chánh niệm liên tục trong mọi tác động. Ðây là việc làm đem lại sự hổ trợ lớn lao trong việc duy trì định tâm. Ðây là loại tâm kiên định và quân bình đưa đến giác ngộ.

Khi ăn phải luôn luôn chú tâm: thấy - thấy, muốn - muốn, di chuyển - di chuyển, đụng - đụng, dỡ - dỡ, mở - mở, đưa vào - đưa vào, ngậm - ngậm, cảm giác - cảm giác, nhai - nhai, nuốt - nuốt. Chánh niệm liên tục vào tất cả mọi tác động. Chẳng có ai núp đàng sau những tác động này. Không có ai ăn, chỉ có một loại cảm giác tác động nối đuôi nhau, ý định chuyển động ý thức mùi vị cảm giác xúc chạm. Khi chú tâm chánh niệm vào các diễn biến của thân - tâm thì cái "ta" biến mất. Bất kỳ lúc nào và ở đâu cũng có thể hành thiền, chẳng có hoàn cảnh nào không thích hợp cho việc tĩnh thức. Thoát nhiên đại ngộ có thể đến với bạn bất kỳ lúc nào khi các yếu tố giác ngộ chín mùi và quân bình.

Lúc ở Ấn-độ, tôi sống trên một căn gác. Hằng ngày tôi lên xuống cầu thang nhiều lần, mỗi lần như thế tôi khám phá ra bộ máy hoạt động của mỗi bước đi đầu gối chuyển động ra sao, sức nặng chuyển biến như thế nào, v.v. Sự chú tâm vào các tiến trình chuyển động này đem lại nhiều lợi ích và thích thú. Trong mọi tác động đều hàm chứa các lợi ích như vậy. Hãy nhìn, hãy khám phá xem sự vật diễn ra như thế nào. Chúng ta thường thất niệm trong khi ăn. Hương vị đến và đi thật nhanh. Vì tham muốn thưởng thức liên tục nên trong khi miệng còn đang ngậm thức ăn mà tay đã gắp miếng khác, chúng ta chẳng biết đến tiến trình của sự ăn. Hãy nuốt hết thức ăn trong miệng trước khi gắp miếng khác, làm như thế chúng ta sẽ trở nên nhạy bén với cơ thể mình và biết được số lượng thực phẩm cần dùng cho cơ thể chúng ta sẽ không bị ăn quá độ nếu biết ăn trong chánh niệm. Chánh niệm ngay cả lúc ăn uống giúp chúng ta duy trì chánh niệm liên tục suốt ngày không chừa một khoảng hở nào khiến phiền não có thể xen vào. Chẳng biết lúc nào đám mây si mê che mờ tâm trí tan biến, chẳng biết lúc nào sự giác ngộ sẽ đến với bạn, sự giác ngộ có thể tới bất kỳ lúc nào, ngay cả lúc bạn đang nằm xuống ngủ. Vậy phải chánh niệm mỗi phút giây đều phải được theo dõi, luôn luôn tĩnh thức trước những gì đang xảy ra. Thiền sẽ chín mùi nhờ liên tục chánh niệm.

Chú ý đơn thuần

Chú ý đơn thuần có nghĩa là quan sát sự vật một cách khách quan đúng theo thực trạng của nó, không chọn lựa, không so sánh, không đánh giá, không kỳ vọng hoặc tính toán can thiệp vào chuyện đang xảy ra. Hãy đơn thuần chánh niệm. Một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn phản ứng dính mắc vào lạc thú chán ghét khổ đau, nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi cái ghét bỏ, phản ứng với chuyện xảy ra qua tham ái và sân hận. Ðó là một cái tâm bất quân bình mỏi mệt. Khi sự quan sát đơn thuần được phát triển, dần dần chúng ta phải đối diện với tư tưởng và cảm giác của mình, với hoàn cảnh và với tha nhân một cách khách quan, không bị tham ái và sân hận chi phối. Chúng ta sẽ bắt đầu có được sự bình an và quân bình khi đối diện với những gì đang xảy ra, không phải chỉ những giờ ngồi thiền sáng, tối mới áp dụng sự quan sát đơn thuần và tĩnh thức, cho rằng chỉ có lúc ngồi thiền mới cần tĩnh thức, những lúc khác không cần chánh niệm. Ðó là ý nghĩ sai lầm, chôn vùi cuộc sống chúng ta và làm cho sự hiểu biết không phát triển. Phải luôn luôn áp dụng chánh niệm trong mọi lúc mọi nơi, dù bạn đang ngồi, đang đứng đang nằm, đang nói hay đang ăn, phải đào luyện để luôn luôn có sự chú ý đơn thuần trên mọi đối tượng, mọi trạng thái hay phản ứng của tâm và mọi hoàn cảnh, mỗi phút giây phải được sống trọn vẹn với tất cả tâm hồn.

Trong thời gian hành thiền, mọi tác động đều phải làm chậm lại để chúng ta có cơ hội quan sát thấu đáo những gì đang xảy ra. Khi chánh niệm đã được vun bồi phát triển, bạn có thể làm nhanh hơn, nhưng bây giờ là lúc bạn đang thực tập. Vì vậy đừng vội vã, làm việc một cách chậm rãi trong yên lặng và tĩnh thức ngay từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ. Bạn phải tĩnh thức trong mọi lúc, lúc nào cũng hành thiền. Mọi tác động đều làm chậm lại sẽ dẫn đến những lợi ích lớn lao, không vội vã không có nơi để đi, không có việc để làm, chỉ cần trở về với thực tại.

Tinh tấn nhưng thư thái

Tinh tấn nổ lực với ý nghĩa là tiếp tục và không dừng nghỉ. Nổ lực tinh tấn, nhưng phải làm với sự cân bằng và thanh thản, hãy kiên trì dầy nổ lực nhưng thật thoải mái và quân bình. Hãy thoát ra khỏi hang tăm tối đến nơi sáng sủa tự do và an bình. Mỗi người đều có một cách thăng tiến riêng, cách nào cũng được, chỉ cần chọn đúng hướng đi. Việc làm của chúng ta là tiếp tục hành trình, dầu phải trải qua một năm, sáu mươi năm, hay năm mười kiếp sống. Bao lâu chúng ta còn hướng về sự giải thoát là được rồi. Tĩnh thức sẽ được khai triển trọn vẹn nếu đối diện với sự vật và quan sát nó với tâm tĩnh lặng, không qua sự suy nghĩ hay khái niệm nào.

Hãy theo dõi kỷ càng để biết tư tưởng phát sinh từ không rồi trở về không như thế nào. Hãy đi vào trong cơn đau, ở trong cơn đau để quan sát. Hãy huấn luyện tâm trong tinh thần thanh thản vô úy, không suy nghĩ mà chỉ yên lặng tỉnh giác quan sát. Nhiều lúc suốt buổi thiền, bạn chẳng thấy gì ngoài sự đau nhức, bất an, dao động và hoài nghi, nhưng thực ra mỗi giây phút tĩnh thức, mỗi giây phút chánh niệm sẽ làm suy yếu những mắt xích ái dục. Tất cả những điều chúng ta cần là quay mặt về hướng giải thoát. Ðừng đi ngược lại, cũng đừng đi về hướng đen tối hơn. Hãy dịu dàng với chinh mình, mặc dầu chưa thấy những biểu hiện rõ ràng nhưng một chuyển biến lớn lao đã diễn ra ở trong bạn như trái đang chín trên cây, dưới ánh nắng mặt trời trái sẽ chín dần mỗi ngày một ít, mặc dầu ta không thấy được tiến trình của nó. Cũng vậy, sự thay đổi và chín mùi trong tâm ta cũng đang tiếp diễn.

Hãy nhớ rằng Ðức Phật chỉ là người hướng đạo, mỗi người phải tự đi trên con đường của mình, không ai có thể đắc đạo thay cho kẻ khác. Tham lam sân hận và si mê nội tại trong tâm chúng ta, không ai đặt chúng vào đấy, không ai lấy chúng ra, chúng ta phải tự thanh lọc tâm mình. Một trong những trở ngại lớn lao trên đường giác ngộ là tâm hoài nghi. Chừng nào nhìn thấu suốt nó, tâm mới không còn hoài nghi bất động. Chúng ta luôn luôn hoài nghi, luôn luôn đặt câu hỏi: thế nào? tại sao? có nên không? có thể là vậy không? Hoặc là luôn luôn đặt câu hỏi, luôn luôn hoài nghi. Hoài nghi cản trở nổ lực truy tầm chân lý của chúng ta. Hoài nghi thường khởi dậy từ những nghi vấn: ta đang làm gì và khả năng để làm việc đó? Có lẻ vì bạn đã có mặt ở đây nên sự suy nghĩ đến hoài nghi là một trở ngại lớn lao trên đường giác ngộ. Nhận diện được phiền não là năng lực lớn lao và là phương cách hữu hiệu, phương cách hiệu nghiệm để vượt qua chướng ngại. Một trong những cách đương đầu với chướng ngại trên đường giác ngộ là trực diện chúng quan sát chúng thật kỷ càng trong từng khoảnh khắc. Nếu tham ái phát sinh, hãy ghi nhận và biết ngay rằng tâm đang dính mắc. Cố gắng nhận ra tức thì mỗi một chướng ngại khởi lên. Tham lam, sân hận, buồn ngủ, dao động, hoài nghi, tất cả đều phải được ghi nhận. Nhận diện hay nhận biết rõ những gì đang xảy ra dẫn đến chánh niệm. Hãy kham nhẫn với mọi người, nhưng trước hết phải kham nhẫn với chính mình, đừng phiền trách sự bất toàn sự khiếm khuyết của mình. Hãy luôn luôn mạnh dạn tự tin và khởi dậy một sự dũng cảm mới mẽ. Hãy tiếp tục bắt đầu tạo tinh tấn mới và đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã làm đủ. Ðó là cách phát triển tâm linh một cách tốt đẹp.

Kiên nhẫn là ở trong tình trạng quân bình, chẳng cần để tâm đến những gì đang xảy ra, thanh thản thoải mái và tĩnh thức. Kiên nhẫn đừng để ái dục hướng dẫn hành động của mình. Nếu không đủ nghị lực để kiên nhẫn thì mỗi ái dục đến sẽ dẫn ta dến hành động và chúng ta sẽ lăn lộn mãi trong vòng tham ái. Không ai có thể kiên nhẫn thay cho bạn, không ai có thể giác ngộ thay cho kẻ khác. Ðức Phật chỉ là người chỉ đường. Chúng ta phải tự đi lấy. Ðừng chán nãn khi bị vọng tâm. Mỗi khi bị phóng tâm, hãy ghi nhận sự phóng tâm, rồi nhẹ nhàng đưa tâm trở về đề mục chính. Phóng tâm bao nhiêu lần không thành vấn đề, chỉ cần nhận ra sự phóng tâm rồi trở về đề mục chính là bạn đã hành thiền tốt đẹp. Ðừng xem sự suy nghĩ như một trở ngại hay phiền não. Suy nghĩ chỉ là một đề mục khác để chánh niệm, một đề mục khác để hành thiền. Ðừng để tâm trở nên lười biếng và lang bạt. Hãy nổ lực tinh tấn để quan sát cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại này.

Khi có sự suy nghĩ xảy ra, hãy đơn thuần ghi nhận và đừng nhảy vào trong sự suy nghĩ, đừng phân tích sự suy nghĩ và tìm hiểu tại sao lý do nó đến. Chỉ cần chánh niệm ghi nhận lúc sự suy nghĩ xảy ra, nên niệm thầm "suy nghĩ, suy nghĩ". Khi tâm suy nghĩ điều gì, chỉ thuần quan sát mà không phán đoán phản ứng thích hay không thích. Không xem sự suy nghĩ là tôi hay của tôi, không đồng hóa mình với sự suy nghĩ. Hãy cố gắng ghi nhận kịp thời mỗi khi có sự suy nghĩ phát sinh, đừng chậm trễ. Khi sự suy nghĩ được ghi nhân kịp thời và chính xác thì bạn không còn bị chúng quấy nhiễu nữa.

Trong khi ngồi thiền, hãy cố gắng ngồi yên đừng nhúc nhích cựa quậy vì thân tĩnh lặng giúp tâm tĩnh lặng. Một phương cách giúp tập trung tâm ý mạnh là lúc bắt đầu ngồi hãy tự hứa hay nguyện sẽ không thay đổi tư thế, không nhúc nhích không cựa quậy. Lúc mới hành thiền thì việc ngồi yên bất động hơi khó khăn đấy, nhưng nếu bạn có nguyện lực hay quyết tâm mạnh mẽ, bạn sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp, và có thể bình tâm quan sát mọi diễn biến của thân và tâm. Dầu cho tâm bạn dao động, bất an, căng thẳng hay khó chịu vì đau nhức, bạn cũng hãy kiên trì chịu đựng và nguyện ngồi yên bất động. Chẳng bao lâu sau mọi chướng ngại trên sẽ dần dần tan biến.

Ðịnh tâm và tinh tấn là hai yếu tố quan trọng trong việc hành thiền bạn. Hãy kiên trì với ý chí và nghị lực. Chẳng bao lâu sau bạn sẽ dễ dàng giữ thân an tâm lạc. Việc hành thiền sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có nỗ lực cố gắng và kiên trì. Tinh tấn là gốc rễ của thành công, là nền tảng của mọi kết quả tốt đẹp. Hãy quyết định hay nguyện ngồi một giờ không nhúc nhích. Sự quyết định hay nguyện này giúp tâm mạnh mẽ và tinh tấn lực càng gia tăng. Khi thân an sẽ dẫn đến tâm an và định, huệ sẽ mạnh mẽ. Khi quyết định ngồi một giờ không nhúc nhích, chắc chắn chúng ta sẽ phải đương đầu với mọi chuyển biến và mọi cảm giác khó chịu đang xảy ra và thấy được mọi phản ứng của tâm đối kháng lại các biến chuyển khó chịu này.

Bất an và giao động

Hãy chánh niệm ghi nhận bất an và giao động. Quan sát tâm xem giao động đến và đi như thế nào. Dầu đang ở tư thế nào, đi, đứng, ngồi, nằm, nếu bất an đến hãy ghi nhận "bất an, bất an", và luôn luôn quan sát ghi nhận các sự bất an và giao động đó ./.

Saturday, October 2, 2010

Tin Vãng Sanh

Được tin Phu Quân của chị Nguyễn Kim Yến là :

Anh Nguyễn Minh Trí
Pháp Danh: Từ Thanh Tuệ


Đã mãn phần lúc 10:45 sáng ngày 2 tháng 10 năm 2010 dương lịch nhằm ngày 25 tháng 8 năm Canh Dần tại San Jose, California.
Hưởng thọ 67 tuổi.

Tang gia xin miễn nhận vòng hoa.

Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam, thành tâm cầu nguyện hương linh :
Anh Nguyễn Minh Trí
Sớm được HOA KHAI KIẾN PHẬT

Đồng thành kính
Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam

Saturday, July 31, 2010

Thư Ngõ tháng 7/2010 của anh Phan Tùng


Thân mời xem thư ngõ của anh Minh Thông Phan Tùng về Lễ Hiệp Kỳ và cứu trợ của GĐPT Chánh Đạo ở Vietnam.

Monday, July 12, 2010

Chị Phối du lịch ở Mỹ









Cám ơn chị Hoàng đã gởi về một số hình ảnh mới của chị Phối đang du lịch ở Mỹ.
CLICK vào hình để phóng to ra.

Chiếc Áo Lam

Xin gởi đến quý vị một bài đọc hay từ web cuả www.gdptthegioi.org:


CHIẾC ÁO LAM

Nhiều lần tự hỏi: “Màu lam có mặt trong đạo Phật từ khi nào? Và nhân duyên gì màu lam đã trở thành màu áo yêu quý của người con Phật?”, nhưng thật tiếc là chưa bao giờ và có lẽ là mãi mãi, tôi sẽ không tìm thấy câu trả lời hoàn hảo. Chỉ biết, từ ngàn năm nay, màu lam thân thương ấy là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh, là nhựa sống, niềm tin, là nơi nương tựa bình an nhất cho mọi người con Phật để tạm gác lại những khổ đau, lo toan của cuộc đời.

Một đêm kia, trong giờ ngồi thiền tĩnh lặng thật an lạc, tôi chợt cảm thấy thương và biết ơn màu lam vô cùng. Từ lúc lọt lòng mẹ đến nay, hầu như màu lam luôn nhẹ nhàng theo tôi qua từng giai đoạn của cuộc sống. Tình yêu của ba má tôi nảy nở khi hai người còn khoác trên mình màu áo lam Gia Đình Phật Tử (GĐPT). Mới được ba, bốn tuổi, chị và anh tôi đã được má dẫn đến chùa trong bộ đồng phục Ngành Oanh màu lam thân thương. Và tôi, dĩ nhiên cũng như vậy, thuở nhỏ đã cùng má, anh và chị sinh hoạt GĐPT Xuân Hòa. Những chiếc áo hoa màu nổi trội có thể thay phiên nhau cùng tôi đi dự tiệc, vui chơi cùng bè bạn nhưng cứ mỗi chiều chủ nhật, độc tôn duy nhất là một màu lam hiền hòa cùng tôi đến chùa. Vậy mà có những khi tôi nhẫn tâm ruồng bỏ chiếc áo lam để không phải đi chùa sinh hoạt GĐPT. Tôi đáng trách lắm. Nhưng một khi khoác áo lam trên người, tôi chưa bao giờ nghe một lời trách móc nào áo lam giận hờn nói với tôi, trái lại, tôi thấy mình nhẹ người hơn. Áo lam vẫn bình yên, an thường như thuở nào. Dù tôi có ghét, thương thì áo lam vẫn hoan hỷ chờ tôi trở lại. Vậy đó, ngay cả lúc chưa sanh ra, màu lam đã là một nhân duyên xây đắp và nuôi dưỡng gia đình tôi. Màu lam đã trở thành một phần không thể thiếu trong gia đình để rồi từng đứa con chào đời, cho đến khi lớn lên, ai cũng được bảo hộ âm thầm bởi chiếc áo màu lam giản dị.

Khi còn ở nhà, tôi cũng vui chơi, quậy phá như bao đứa trẻ khác. Nhưng khi áo lam đã ở trên người, tôi cảm thấy mình chững chạc hơn và có cảm giác mình không thể nào làm điều sai trái. Chiếc áo lam như nâng tôi lên một tầng cao mới của đạo đức! Tôi không hoàn toàn thay đổi tính cách nhưng áo lam như nhắc nhở tôi rằng mình không được làm việc xấu. Tôi thật sự áy náy, hối lỗi nếu tôi bước vào những nơi vui chơi không lành mạnh mà tôi vẫn còn khoác áo lam sinh hoạt GĐPT. Lúc ở nhà và cho đến bây giờ, tôi luôn thấy hành động đó sẽ làm bẩn đi, làm nhòa đi màu lam trong sạch. Tôi đâu ngờ rằng chỉ ngần ấy suy nghĩ, những hạt giống của tình thương, giải thoát, hạnh phúc đã được gieo cấy và vun gốc trong tâm hồn thơ dại của tôi. Để rồi mỗi khi sinh hoạt GĐPT, mỗi khi khoác áo lam lên người, những hạt giống thiện lành ấy lại có dịp tưới tẩm, đâm chồi và nảy lộc mạnh mẽ nhiều hơn trong trái tim tôi.
Không một thanh thiếu niên nào lựa chọn những chiếc áo màu lam để đi chơi, dự tiệc và dã ngoại! Cũng phải thôi, vì lẽ cũng không một nhà thiết kế thời trang nào sử dụng vải màu lam để đưa lên mẫu thiết kế! Vì màu lam không lòe loẹt, cá tính. Vì màu lam không khiến mọi người chú ý, ấn tượng. Màu lam luôn hiền hòa, thanh đạm, khiêm tốn. Màu lam không phải tượng trưng cho cái giàu hay nghèo, lại càng không phải là nơi để ta thể hiện cái “tôi” giữa bao người. Màu lam mang một ý nghĩa khác, sâu sắc hơn: Màu của sự Giải Thoát”.

“Thân thương chiếc áo màu lam
Mặc vào người thấy tánh tham tan dần
An nhiên đang đến thật gần
Tham si sân hận lần lần ra đi."

Dù anh có là kẻ giàu sang, dù chị có là người bần cùng nhưng khi áo lam đã trên người anh chị, chẳng ai có thể phân biệt được gia thế của mỗi người. Lúc đó, chỉ có một gia thế, chỉ có một tầng lớp có mặt trong anh chị. Gia thế đó là Con Phật. Tầng lớp đó là những người sống hòa hợp, hạnh phúc với nhau trong tinh thần Lục Hòa và Giải Thoát.

Nếu màu nâu tượng trưng cho hạnh Khiêm Cung thì màu lam tượng trưng cho hạnh Giải Thoát. Giải thoát điều gì? Giải thoát khỏi những khổ đau, phiền muộn, lo toan, sợ hãi để ta tự do, tự tại, sống ngày một an lạc, hạnh phúc hơn, và ta có cơ hội đem đến cho đời những niềm vui dù bé nhỏ nhưng thật cần thiết và ý nghĩa.

Trong kinh Phật dạy: “Như trăm sông về một biển, chỉ chung một vị duy nhất là vị mặn. Giáo pháp của ta cũng chỉ có một vị duy nhất. Đó là vị Giải Thoát”. Áo Lam là chiếc áo Giải Thoát và ta đã từng một lần giải thoát, xa rời những khổ đau, u sầu, tham lam, giận hờn mỗi khi mang chiếc áo Giải Thoát chưa? Quay lại với tự thân và trả lời câu hỏi trên. Chắc chắn ta cũng từng hạnh phúc, thậm chí là rất nhiều, khi khoác áo lam và ta cũng không tránh khỏi những lầm phiền muộn khi khoác áo lam trên người. Hãy mỉm cười với câu trả lời và ta tự nhủ với lòng sẽ luôn an lạc mỗi khi mang áo lam. Ta nên từ tốn, khoan thai và trân trọng chiếc áo màu lam thân thương. Thở thật nhẹ, sâu, ý thức từng hạt nút được cài, mỉm cười và thầm đọc bài thơ sau:

"Mặc chiếc áo màu lam
Tâm tư thường khỏe nhẹ
Nguyện sống đời thảnh thơi
Đem vui cho trần thế."

Mặc áo lam trong niềm tỉnh thức và an lạc như vậy, ta mới xứng đáng là con Phật, xứng đáng mang trên mình Chiếc Áo Lam Giải Thoát.
Vài ngày trước khi vào chùa xuất gia, tôi có dự định đem theo bên mình chiếc áo lam để làm vật kỷ niệm, kỷ niệm một thời gian buồn vui cùng GĐPT Xuân Hòa, cũng mong sao mang bên mình chút hơi ấm của quãng thời gian chơi cùng bè bạn, anh chị em. Tôi biết xuất gia có nhiều thử thách, chướng ngại và tôi muốn chiếc áo lam trở thành điểm tựa tinh thần cho tôi mỗi khi gặp khó khăn. Nhưng má tôi lại muốn khác. Người muốn tôi truyền trao bộ đồng phục có chiếc áo lam ấy cho một Đoàn sinh khác. Tôi buồn và thật sự lưỡng lự. Chuyện này khiến tôi ưu tư rất nhiều. Để lại hay mang theo? Và rồi tôi cương quyết: “Đi tu là đã rời xa cha mẹ, người thân, tại sao lại vì một chiếc áo lam mà suy nghĩ nhiều như vậy?”. Dù cương quyết mạnh mẽ như thế, tôi vẫn thấy xót xa, chạnh lòng như mất đi một cái gì thân quen, yêu mến lắm mà từ lâu tôi không thể thiếu.

Thời gian thấm thoát trôi, tôi được xuất gia. Tôi nhớ như in. Ngày xuống tóc, tôi thấy những em Đoàn sinh GĐPT đến chùa với chiếc áo lam mến yêu. Tôi thương lắm. Nhìn những chiếc áo lam mà các em đang mang, tôi chợt nhớ lại chiếc áo lam của tôi. Áo lam ở đâu rồi? Không biết ai đang mang chiếc áo lam đó? Người ấy có hay đến chùa sinh hoạt GĐPT không hay là để chiếc áo lam ấy trong ngõ ngách nào đó của tủ quần áo và vẫn thường lãng quên chiếc áo của tôi? Nhiều lúc buồn khổ, giận hờn huynh đệ trong thiền môn, tôi vẫn hay nhớ về những niềm vui, nụ cười mà mình có được khi còn mang chiếc áo lam đi sinh hoạt mỗi chiều chủ nhật. Tôi không tiếc nuối về quá khứ nhưng mỗi khi nghĩ về áo lam, về Sư Bà Trụ Trì, về GĐPT Xuân Hòa và anh chị em ở quê hương, tôi như được tiếp thêm sức mạnh tinh thần để “vững bước trên đường đạo”.

Sư phụ tôi, thuở nhỏ cũng từng là Đoàn sinh GĐPT. Người cũng từng vui đùa hồn nhiên như tôi và bao Đoàn sinh khác hồn nhiên trong chiếc áo lam GĐPT hiền hòa. Đôi khi tôi thấy Sư phụ ngồi im lặng, đưa đôi mắt và cái nhìn hiền từ của Người hướng về các em Đoàn sinh GĐPT đang nô đùa vui chơi, tôi như vui lây niềm vui mà Sư phụ đang có. Nụ cười của Người thật đẹp, một nụ cười của lòng biết ơn, hạnh phúc, thương yêu mà những người xuất gia xuất thân từ GĐPT không thể nào không có. Nụ cười đó khiến tôi xúc động. Nhưng tôi không biết Sư phụ có nhớ chiếc áo lam của Người cách đây hơn nửa thế kỷ như tôi nhớ chiếc áo lam của tôi chỉ cách đây vài năm không? Tôi cảm thấy khó hiểu với chính mình. Dám từ bỏ người thân, bè bạn xóm làng để xuất gia học đạo nhưng chưa dứt được lòng lưu luyến với một chiếc áo lam, hay là vì tôi quá mong mỏi gặp lại chiếc áo lam đó?

Đêm kia, một đêm gió mát lồng lộng, tôi bước những bước chân thiền hành thong dong dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc. Tôi bỗng nhận ra một sự thật tuyệt vời: Chiếc Áo Lam ngày xưa tôi mang và lưu luyến đó, thật ra đã trở thành con người của tôi rồi! Áo lam là giải thoát. Tôi đã mang chiếc áo lam giải thoát đó suốt 7 năm dài. Và mỗi khi khoác trên mình chiếc áo lam ấy, hoạt giống giải thoát lại được ươm mầm trong tâm hồn thơ dại của tôi. Hạt giống giải thoát đó đã nứt mầm, nảy hạt và lớn lên để rồi chúng giải thoát cuộc đời tôi bằng một nếp sống giản dị, mộc mạc và nhiều an lạc, hạnh phúc. Tôi xuất gia được, trở thành kẻ “đầu tròn áo vuông” là nhờ chiếc áo lam ấy. Ẩn sau những chiếc áo nhật bình, những bộ đồng phục của người tu, những sắc phục y hậu rực rỡ mà tôi đang mang, một chiếc áo lam hiền hòa vẫn còn đó với nhiều ý nghĩa sâu sắc nhất.

Từ đó, tôi mới thật sự “để lại” chiếc áo lam của mình cho một Đoàn sinh khác mà lòng cảm thấy hoan hỷ, nhẹ nhàng. Tôi có mất áo lam hay áo lam ấy có bao giờ bỏ rơi tôi khi nào đâu. Tôi còn thấy vui vì mong sao người mang chiếc áo lam ấy cũng được áo lam giải thoát cuộc đời họ như tôi được áo lam giải thoát. Và tôi đã nhìn thấy chiếc áo lam của tôi ở mọi chiếc áo lam mà tất của Đoàn sinh GĐPT đang khoác trên người.

Tình cảm của tôi với áo lam chan hòa như vậy đó. Nhưng nhiều lúc tôi tôi thấy thương cho những Đoàn sinh GĐPT, ngay cả các anh chị Huynh Trưởng, mỗi khi họ mang chiếc áo lam mà lại nói lời không dễ thương, gây đau khổ phiền lòng cho anh chị em trong Gia Đình. Và những khổ đau, sân hận, lòng oán hờn lại có cơ hội lớn lên trong tâm họ dù áo lam giải thoát, hiền hòa vẫn còn trên người. Tội nghiệp quá đi! Đã mang chiếc áo giải thoát rồi mà vân chưa giải thoát chút nào! Tội nghiệp cho họ và tội nghiệp cho chiếc áo lam họ đang mang. Dù chiếc áo lam đó có đẹp cách mấy, dùng nước xả tham nồng nàng đến mức nào mà ta lại buông lời giận dữ, trách móc, hờn dỗi thì tôi nghĩ chiếc áo lam đã bị bẩn rồi. Tại sao ta lại không làm nở một nụ cười trên môi khi mình mang áo lam? Tại sao ta lại không nhìn mọi người với cặp mắt thương yêu khi áo lam đã khoác trên người? Tại sao ta không biết thương biết quý, khi người anh, người chị, người em của dám từ bỏ thẳng thừng những chiếc áo hoa màu để chỉ mang trên mình một chiếc áo lam dễ thương? Mình nên biết khi ai đó mang trên người chiếc áo lam GĐPT thì người đó đang gieo hạt giống của lòng hiền hòa, thương yêu, tha thứ trong con người của họ. Chắc chắn một cậu thanh niên mang chiếc áo lam sẽ hiền hơn khi cậu mang đồ hip-hop hay những áo quần màu mè hoa lá cành khác! Cũng vậy, dù có kiêu sa, quyến rũ đến bao nhiêu khi phục sức trong những chiếc váy đần lộng lẫy nhưng khi chiếc áo lam đã khoác trên người, cô thiếu nữ bỗng trở nên đằm thắm, nhẹ nhàng và chững chạc hơn bao giờ hết!

Do đó, ta nên nhớ một điều thật giản dị và mầu nhiệm: Một giờ mang áo lam đến chùa là một giờ ta trở thành người hiền lương. Ai trong xã hội mà mang áo lam đến chùa trong một phút, người đó đã có được một phút không làm ác, không đua đòi, không sa vào những thói hư tật xấu ở đời. Chỉ có thế mà những hạt giống thiện lành trong họ có dịp được tưới tẩm, đâm chồi, nảy lộc!
Nếu ta có thể luôn luôn ý thức điều mầu nhiệm này, ta sẽ luôn biết thương yêu qua từng cái nhìn, luôn biết nở nụ cười hiền hòa với mọi người anh, chị em của mình trong Đại GĐPT.
Nhờ thế mà mỗi khi thấy bất cứ Đoàn sinh nào đến chùa với chiếc áo lam, tôi đều mỉm cười vì biết Đoàn sinh đó đang có những giờ phút thật yên bình dưới mái chùa thiền môn tĩnh lặng.

Tôi biết có rất nhiều anh chị em Đoàn sinh cũng mang trong mình một tình cảm thật sâu đậm với chiếc áo lam của họ. Những Đoàn sinh đó luôn tự hào mình là một Đoàn sinh GĐPT và họ sẵn sàng kể chuyện vui khi còn sinh hoạt suốt 5 giờ đồng hồ, thậm chí là hơn thế nữa mà không bao giờ thấy chán. Cuộc sống có nhiều cám dỗ, mưu mô, tranh đấu nhưng đã có người trong số họ xem GĐPT như cội gốc đạo đức của cuộc đời họ. Tuy nhiên, cũng chính vì cuộc sống mưu sinh, đa đoan, nhiều Đoàn sinh đã không có cơ hội mỗi chiều chủ nhật sung sướng đến chùa với chiếc áo lam mộc mạc. Họ rất buồn và nuối tiếc. Nhưng điều tôi đau lòng là họ lại không dám khoác áo lam trên người mỗi khi có dịp trở về với GĐPT và mái chùa xưa! Hỏi ra thì họ thú thật: “Vì lâu lắm rồi mình không sinh hoạt nên có nhiều anh chị lớn coi mình không phải là Đoàn sinh GĐPT nữa. Dù mình có đến chùa, nhiều người xem thường vì sinh hoạt mà lúc có lúc không, chỉ đợi lễ mới đến, chỉ đợi đến hè có trại mới đi để vui rồi qua lễ, qua trại lại nghỉ luôn. Hơn nữa, lâu lâu mới đến chùa cho vui, hiếm hoi lắm mới đi được một ngày nên mang áo thường lên chùa cho tiện”. Một anh Đoàn sinh ngành thiếu đã nói với tôi những lời này.

Tôi thiết nghĩ không một Thầy, một Sư cô nào và ngay cả các vị Hòa Thượng xem thường một Phật tử lâu ngày mới đến chùa một lần! Vậy thì là một Huynh Trưởng, một anh chị lớn, dù ở thứ bậc nào, tại sao ta lại đối xử với những Đoàn sinh lâu ngày mới đến chùa bằng một thái độ như thế? Khi xưa, Bác Tâm Minh Lê Đình Thám lập ra GĐPT là chỉ mong sao các thanh thiếu niên có được môi trường vui chơi lành mạnh dưới mái chùa yên bình. Cứ chiều chủ nhật đến, Bác lại mong muốn có thêm một em thiếu nhi, thanh thiếu niên nữa đến chùa sinh hoạt vui chơi. Thấy một Đoàn sinh không còn sinh hoạt nữa, Bác buồn và luôn chờ đợi Đoàn sinh đó về lại chùa trong chiếc áo lam thương mến.

Mười năm ra đi mà còn nhớ chùa để về lại trong dịp lễ, cắm trại còn hơn là ra đi vĩnh viễn để chạy theo thói hư tật xấu ở đời. Tại sao ta lại không biết thương cho những Đoàn sinh không có điều kiện sinh hoạt đều đặn? Mỗi khi những Đoàn sinh đó dám rũ bỏ tất cả mọi cám dỗ ở đời để về lại chùa, đúng ra ta phải mừng, phải vui chứ! Hay là ta muốn cắt đứt, đoạn tuyệt tất cả nhân duyên tốt đẹp của các Đoàn sinh đó với Phật giáo? Ta muốn chiều chủ nhật, thay vì đến chùa, các Đoàn sinh đó phải vào các quán cà phê, trà đình tửu điếm hay sao? Ta có tư cách gì, ta có quyền hành gì mà dám không nhận, xem thường các Đoàn sinh lâu ngày mới trở lại tổ chức GĐPT dù chỉ một ngày? Tại sao ta lại nhẫn tâm ruồng bỏ các Đoàn sinh đó chỉ vì cái bản ngã, cái thành kiến không hơn không kém của ta chứ?

Anh chị đừng nghĩ những lời trên là tôi trách móc những anh chị Huynh Trưởng khác. Không! Đó là lời tôi trách móc với chính tôi cách đây vài năm khi mới vào chùa. Bảy năm sinh hoạt GĐPT, dù vẫn còn là Đoàn sinh Ngành Oanh nhưng tôi đã có cái nhìn sai lạc như vậy. Tôi đã từng đối xử tệ bạc với những bè bạn cùng lứa lây ngày mới trở lại. Tôi luôn cho mình đối xử như vậy là đúng. Nhưng tôi là ai mà dám xử sự như thế? Ngay cả Sư Bà Trụ Trì lúc nào cũng hoan hỷ chờ đón bất cứ ai đến chùa thì tôi có tư cách gì cảm thấy khó chịu khi nhiều Đoàn sinh lâu ngày mới trở lại chùa?. Thế rồi tôi quỳ trước tượng Đức Phật. Tôi rưng rưng nước mắt vì biết mình đã phạm một tội lỗi lớn. Tôi đã làm cho nhiều Đoàn sinh chán ghét chùa và GĐPT chỉ vì thái độ ngu si của tôi. Đau lòng hơn nữa, trong số đó, đã có nhiều Đoàn sinh vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Tôi là con Phật mà đã làm cho người khác hết cơ hội, thiện cảm với mái chùa và GĐPT. Năm vóc phủ phục sát đất trước Đức Thế Tôn, tôi cảm thấy mình có lỗi rất nhiều. Nhưng ngước nhìn dung nhan của Ngài, tôi vẫn thấy Thế Tôn mỉm cười an nhiên như thấu hiểu nỗi lòng của mình. Và tôi phát nguyện sẽ luôn luôn hoan hỷ khi thấy ai đến chùa dù họ là Phật tử hay không Phật tử, dù họ có rời xa mái chùa bao lâu, chỉ cần bước chân của họ đặt trên vùng đất già lam thanh tịnh, tôi sẽ mỉm cười hoan hỷ và cầu nguyện cho họ có được những giờ phút yên bình dưới mái chùa im mát. Từ đó, Tôi luôn vui vẻ khi nhìn một chiếc áo lam hay tất cả những chiếc áo màu khác đến chùa. Tôi đã giải thoát phần nào tâm lượng hẹp hòi của mình. Bài học này, Áo Lam đã dạy cho tôi.

Tôi hy vọng sẽ không có ai mắc phải sai lầm như tôi, một sai lầm khiến nhiều thanh thiếu niên không có cơ hội đến chùa để học hỏi giáo lý và chuyển hóa khổ đau. Xin đừng xa lánh một Đoàn sinh nào cả, dù Đoàn sinh đó có sai phạm đến đâu, ta phải luôn đem tấm lòng hiểu, thương mà đối xử. Hãy rót cái nhìn dịu hiền từ đôi mắt hướng về Đoàn sinh ấy, hãy mỉm cười nhìn các em đó như ánh mắt và nụ cười mà Đức Phật luôn nhìn chúng ta. Là con Phật, ta sẽ làm được điều này. Bởi lẽ, Áo Lam Giải Thoát ta luôn khoác trên người, bởi lẽ Giải Thoát là lí tưởng cao nhất của cuộc đời người Phật tử. Áo lam sẽ giải thoát cho ta như Thế Tôn giải thoát cho mọi loài. Hãy sống đúng với tư cách của người con Phật, sống không hổ thẹn với Áo Lam Giải Thoát, sống vững chãi với tất cả sự đời. Hãy trân quý, kính trọng Áo Lam như trân quý, kính trọng một Đức Phật. Vì Áo Lam… chính là… một hóa thân của Đức Thế Tôn!

Từ Nghiêm, 15 tháng 6 năm 2010.
Nguyên Nhuận – Thích Nhuận Thọ

Sunday, June 20, 2010

Cứu trợ của Chánh Đạo Saigon tại Phan Thiết

Cám ơn anh Hồ đã thông báo hoạt động cứu trợ của Chánh Đạo Saigon tại Phan Thiết