Tuesday, October 12, 2010

BẢY BƯỚC YÊU THƯƠNG.







BẢY BƯỚC YÊU THƯƠNG.
(BƯỚC THỨ NHẤT: XEM MỌI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN)
Viết bởi Đức Đạt Lai Lạt Ma

Trong khi bạn trông mọi người quanh mình liên tục hụp lặn trong chiếc vòng luẩn quẩn của cuộc sống này,
Và dường như là họ bị cuốn vào bể lửa,
Chẳng có gì tồi tệ hơn việc bạn chỉ vận động nhằm mục tiêu tự giải phóng cho chính bản thân mình,
Và chẳng quan tâm gì đến những người mà bạn không thừa nhận qua quá trình chết đi và tái sinh

CHANDRAGOMIN, trích từ Letter to a Student

Sau khi bạn trông thấy được thái độ công bằng dành cho bạn bè, kẻ thù và những người xa lạ, bạn có được một nền tảng vững chắc cho việc xem tất cả mọi người như những người bạn thân nhất của mình. Mục tiêu này là nhằm phát triển một tình cảm chân thành dành cho mọi người. khi tình cảm yêu mến dành cho mọi người đã xuất hiện trong bạn, bạn cần đến một kỹ thuật nhằm trau dồi phát huy việc nhìn nhận tất cả mọi sinh linh như những người bạn của mình, trong kỹ thuật này bạn vận dụng những người bạn thân nhất của mình trong vai trò là gương mẫu điển hình. Thế thì ai là người bạn thân nhất của bạn?

Một phương pháp tiếp cận khác là bạn vận dụng tình yêu thương vô bờ bến mà mẹ bạn dành cho bạn để đóng vai trò là gương mẫu điển hình. Bởi vì tôi được xem là sự tái sinh của vị Dalai Lama XIII, nên tôi đã phải sống xa nhà kể từ khi tôi được ba, bốn tuổi. Khi còn là một đứa bé, tôi thường viếng thăm mẹ tôi mỗi ngày, nếu không thế thì mẹ tôi cũng đến thăm tôi. Mẹ tôi quả thực là một người có tấm lòng nhân từ độ lượng, bà luôn sẵn lòng chăm sóc tất cả những ai nghèo khổ. Bà luôn tỏ ra tốt bụng với tất cả mọi người.

Từ khi tôi lên bốn tuổi, người cho tôi thức ăn mỗi ngày tại Lhasa là Ponpo với chiếc đầu hói và râu rậm. Khi ấy tôi rất gần gũi với ông ta, ông ta giống như người mẹ của tôi vậy. Khi tôi còn ở Dinh thự Summer để học các bài kinh Phật giáo, ông ấy luôn luôn phải ở gần bên tôi, tôi sẽ khóc ngay nếu không có ông ấy bên mình. Tôi sẽ không khóc nếu ít nhất tôi được trông thấy hình ảnh của ông qua khung cửa kính cách tôi vài mét. Ông ấy luôn luôn ở đó, nếu không thế thì tôi sẽ bật khóc ngay. Ponpo, là đầu bếp của vị Dalai Lama trước tôi, không hề, biết kể chuyện, chẳng hề biết chơi đùa và cũng chưa từng bao giờ được đi học dù ở bất kỳ lĩnh vực nào. Tôi luôn ngưỡng mộ ông ta bởi vì ông ta cho tôi ăn và chăm sóc tôi bằng tình cảm yêu thương của mình.

Theo tôi thì dường như là chúng ta, giống như các động vật khác chẳng hạn như chó và mèo, thường tôn trọng nâng niu những ai cho chúng ăn. Chúng ta yêu thương mẹ của mình không phải bởi vì bà ấy sinh ra chúng ta mà là vì bà ấy cho chúng ta sữa và chăm sóc chúng ta. Khi tôi bệnh, Ponpo liên tục ẵm tôi trên tay và ôm lấy tôi trong lòng mình. Khi bạn ôm một chú mèo con trong lòng mình, chú mèo lập tức kêu rừ rừ và trẻ con cũng thế. Tôi rất yêu mến ông ta là vậy.

Tất cả mọi người, dù có tín ngưỡng hay không, đều có thể hiểu được trải nghiệm tự nhiên này và đều có thể hiểu được rằng tình yêu thương là một cái gì đó rất quan trọng ngay khi chúng ta vừa chào đời; đó là nền tảng cơ bản của cuộc sống này. Sự tồn tại của thể xác rất cần đến tình cảm yêu thương của mọi người dành cho và rồi chúng ta cũng đáp lại những tình cảm đó bằng những tình cảm đó là những tình cảm thân thương của mình. Mặc dù tình cảm này được trộn lẫn với lòng lưu luyến, tình cảm này hoàn toàn không được đặt trên nền tảng là sự hấp dẫn về thể xác. Loại tình cảm này, mặc dù thường mang tính thiên vị, có thể được mở rộng ra và hướng đến tất cả mọi sinh linh, giúp cho nó được công bằng. Đây là những gì tôi có ý muốn nói đến những việc mở rộng lòng yêu thương.

Trong bài thiền định sau đây, nếu mối quan hệ giữa bạn và mẹ của mình không được tốt đẹp, bạn hãy hình dung một hình ảnh về một bà mẹ lý tưởng của mình, hoặc bạn có thể vận dụng hình ảnh của các thành viên khác trong gia đình hoặc bạn bè của mình.

Thiền định

Trước tiên, chúng ta cần xem qua những nền tảng cơ bản của bài thiền định này. Khuôn khổ của bài thiền định này được thiết lập dựa vào niềm tin về sự tái sinh, nếu bạn có một chút niềm tin vào việc này, bạn có thể vận dụng nó nhằm tìm hiểu thêm về những ngụ ý phía sau khái niệm về sự tái sinh bất tận và hiểu thêm về mối quan hệ giữa bản thân mình và tất cả mọi người quanh mình.

1. Bạn hãy nghĩ mà xem, nếu có sự tái sinh thì sự tồn tại tuần hoàn của bạn cho thấy rằng sự hiện sinh của bạn hoàn toàn không có điểm khởi đầu.

2. Bạn hãy suy nghĩ xem, khi bạn được sinh ra là một con non từ một con vật hay một con người, hoặc là một quả trứng từ một chú chim, một con cá, hoặc một con nhện thì khi đó chắc chắn bạn luôn cần đến một người mẹ. Và bởi vì bạn có vô số những sự hiện sinh khác nhay, nên ắt hẳn bạn cần đến vô số những bà mẹ khác nhau trong suốt những kiếp sống của mình. Ngụ ý của việc này là, mỗi sinh linh đều có một bà mẹ của riêng mình trong một lúc nào đó.

3. Bạn cần phải nhìn nhận rằng những lần bạn được sinh ra đời là vô số và thế nên con số những người mẹ của bạn cũng trở thành vô số.

4. Khi bạn suy nghĩ về những việc này, bạn sẽ nhận thấy rằng mỗi sinh linh trong kiếp sống hiện tại của mình đều đã từng là những người mẹ của bạn trong vô số những kiếp trước. Bạn đừng chối bỏ những bước này; mục tiêu ở đây không phải là buộc phải chấp nhận lối lý luận thiển cận như thế này mà là nhằm giúp bạn có được một khái niệm tương đối về tái sinh. Bạn hãy thử xem và rồi bạn sẽ thấy rằng điều này thật hữu ích biết bao.

• Bạn hãy suy nghĩ về một người bạn thân nhất của mình và xác định rằng người bạn này là một người bạn rất hữu ích, tại một lúc nào đó trong suốt quá trình liên tiếp qua vô số những kiếp sống trước đây. Bạn hãy giữ hình ảnh của người bạn này trong tâm trí mình mãi cho đến khi bạn cảm nhận được sự thay đổi về quan điểm của mình.
• Sau đó bạn dần dần nghĩ về những người bạn khác, không gần gũi thân thiết với bạn như thế, từng người một, theo cùng một cách như thế và rồi bạn sẽ nhận thấy rằng họ là những người trong vô số những kiếp sống qua. Và bạn sẽ tốn nhiều ngày để làm được điều này – thậm chí có thể nhiều tuần lễ.
• Sau đó bạn chuyển sang nghĩ về một người xa lạ - một người nào đó không giúp ích cho bạn cũng chẳng gây hại cho bạn trong kiếp sống này trong suốt những kiếp sống đã qua cũng đã từng là những người thân thiết gần gũi của mình, giúp đỡ mình, nuôi nấng mình, là người bạn thân nhất của mình.
• Dần dần bạn mở rộng nhận thức này đến tất cả những người xa lạ - những người bạn nhìn thấy tại trạm xe buýt, những người bạn đang đi trên đường, những người trong cửa hiệu.
• Khi bạn đã đạt được một mức độ thuần thục nào đó trong việc xem những người bạn và những người xa lạ là những người đã từng nuôi dưỡng chăm sóc mình và bạn có thể cảm nhận được những thay đổi tích cực trong tâm hồn mình, khi ấy bạn hãy suy nghĩ về những người đã từng gây hại cho bạn hoặc cho bạn bè của bạn. Bạn hãy khởi đầu bằng những người đã từng nói xấu hoặc lăng mạ bạn. Nếu bạn suy nghĩ quá sớm về những người thù địch lớn hơn của mình, những người là bạn thực sự căm thù cao độ thì những cảm xúc tiêu cực trong bạn sẽ lập tức cản đường bạn khiến bạn không thể tiếp tục tham gia bài thiền định này được nữa.
• Khi bạn cảm nhận được những thay đổi tích cực trong suy nghĩ của mình dành cho những người thù địch nho nhỏ của mình, bạn hãy cố gắng duy trì suy nghĩ tích cực đó một lúc, rồi bạn chầm chậm nghĩ về những người thù địch to lớn hơn.
Qua bài luyện tập này bạn có thể cư xử với mọi người như những người bạn của mình. Nói thì dễ nhưng làm mới khó. Bạn đừng để mình nản lòng nhé, bạn cần phải tham gia bài thiền định này lặp đi lặp lại. Dần dần bạn sẽ có thêm kinh nghiệm và mọi việc sẽ dễ dàng với bạn.

KỸ THUẬT NGẮN GỌN

Trong khi tham gia các bài thiền định này, đôi khi bạn cũng cần phải xem tất cả những người bạn gặp phải như những người bạn gặp phải như những người bạn thiết thực của mình. Ví dụ, khi bạn gặp một người xa lạ trong đám đông, bạn nghĩ: người này dường như chẳng có liên hệ gì với mình cả trong kiếp sống này nhưng trong suốt những kiếp sống trước đây thì ắt hẳn họ đã từng là mẹ, cha của mình. Theo cách này bạn sẽ dần dần phát triển được cảm xúc rằng tất cả mọi sinh linh đều là những người bạn.

ƯỚC ĐOÁN MỨC ĐỘ THÀNH CÔNG

Sau khi luyện tập liên tục bạn sẽ gặp phải hoàn cảnh sau: thậm chí khi bạn trông thấy một con rệp, bạn cũng sẽ nghĩ rằng, ồ, con vật này được sinh ra trong một hoàn cảnh thật khó khăn? Mặc dù mình là một con người và con vật này là một con rệp, trong quá khứ nó đã từng là mẹ của mình, mình là con của nó. Đã có những lúc cuộc sống của mình phụ thuộc vào nó và nó đã nâng niu chăm sóc mình, quý mến mình hơn cả chính bản thân nó. Sau khi bạn đã tham gia thiền định đủ độ, lối suy nghĩ như thế này sẽ xuất hiện một cách thanh thoát tự nhiên. Dấu hiệu cho thấy rằng bạn đã thành công trong việc nhìn nhận tất cả mọi sinh linh là những người bạn của mình, là những người đã từng dung dưỡng nuôi nấng mình, đó là khi bạn quan sát thế giới quanh mình và bạn nghĩ rằng, mọi sinh linh trên thế gian này đã chăm sóc mình trong những kiếp trước, không những một lần mà là nhiều lần.

NỤ CƯỜI BẤT DIỆT

NỤ CƯỜI BẤT DIỆT





alt

Trong thời gian yên tu, một hôm bỗng dưng chúng tôi cảm thông được nụ cười nhẹ nhàng hiện trên môi tượng đức Phật và nụ cười tạm biệt của các Thiền sư khi từ giã cuộc đời. Tại sao bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật tại Lộc Uyển đề cập trước nhất là Khổ đế, cho đến nhiều bài thuyết pháp sau này, đức Phật cũng thường nhắc đến nỗi khổ của chúng sanh vô tận bằng những câu "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả...", mà trên gương mặt Ngài luôn nở nụ cười?

+ Vô minh là cội nguồn của muôn kiếp khổ đau.- Con người có mặt trên cõi đời do vô minh chủ động, nên khi ra đời đã mang sẵn chất keo đau khổ. Vô minh là gì mà đày đọa con người lắm thế?_ Vô minh là nhận hiểu sai lầm về con người và muôn vật. Về con người, thân này là cái không thể giữ mà cố giữ, cái sắp bại hoại mà muốn không bại hoại, cái tạm bợ mà tưởng lâu dài, cái nhơ nhớp mà tưởng đẹp đẽ; các cảm giác là hư ảo mà tưởng là chân thật, cảm giác là vô thường mà tưởng lâu dài, cảm giác là đau khổ mà tưởng là hạnh phúc; nội tâm vọng tưởng là ảo ảnh mà chấp là tâm mình, chân tâm bất diệt thì lơ là không biết đến. Về muôn vật, những sắc hình hào nhoáng, những âm thanh sanh diệt, những hương vị tạm bợ, mà mê say đắm đuối, khao khát thèm thuồng đuổi bắt suốt đời không biết mệt mỏi. Từ những nhận hiểu sai lầm này, con người không bao giờ toại nguyện, không bao giờ được như ý, không bao giờ thấy hạnh phúc; mà luôn luôn thấy bất mãn, bất như ý, bất hạnh... là nguồn gốc khổ đau. Cái nhận hiểu sai lầm này gắn chặt vào chúng ta từ đời này sang kiếp nọ, mãi mãi không rời, cho nên khổ đau do nó gây ra không biết lấy đâu làm ngằn mé, chỉ còn cách diễn tả "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả".

Mặc dù vô minh hiểm nguy như thế, song một phen giác ngộ chúng liền tiêu tan. Như ngôi nhà tối ngàn năm chỉ cần thắp ngọn đèn sáng lên thì bóng tối tan mất. Cái mê lầm u tối tạo thành muôn ngàn sợi dây nghiệp khổ, trói buộc lôi kéo con người lăn lộn trong vạn nẻo luân hồi, tưởng chừng như không có cách gì thoát khỏi; đâu ngờ ngọn đèn giác ngộ vừa bừng sáng lên, chúng liền lui mất không còn tung tích. Thấy tường tận sự việc này, đức Phật không nở nụ cười an lành sao được.

Chúng sanh simê tranh giành sắc, tài, danh, lợi, đấm đá nhau, sát phạt nhau, lừa đảo nhau, hận thù nhau... biến cảnh nhân gian trở thành bãi chiến trường. Kẻ thắng thì được hoan hô thăng thưởng, được vật chất dẫy đầy; người bại thì bị khinh miệt chê đè, bị thân tàn nghèo đói. Một bên hạnh phúc, một bên khổ đau hiện bày trước mắt mọi người. Vì thế, bất cứ ai có mặt trên trần gian đều sẵn sàng cầm kiếm xông vào trận mạc để mong giành phần thắng về mình. Nhưng nơi chiến trường đâu phải ai cũng là kẻ thắng. Có người thắng là có kẻ bại, có hạnh phúc là có khổ đau. Ðôi khi kẻ bại phải tan thân mất mạng đã đành, mà người thắng cũng thương tích đầy mình. Hạnh phúc rất ít mà khổ đau quá nhiều. Mặc dầu là thế, ở đời có ai chịu nhường bước cho ai. Những chiếc xe tranh nhau qua mặt gây tai nạn, hằng ngày xảy ra nhan nhản trước mắt, mà các chú tài xế ít khi chịu nhường tránh nhau để mình và người được sự an toàn. Tranh đấu đã trở thành qui luật của con người. Song kẻ thắng người bại kết cuộc sẽ thành cái gì?_ Một nấm mồ hay một nhúm tro tàn!

Ðời người là diễn viên đang diễn xuất những vở bi hài kịch trên sân khấu của kịch trường. Dù đóng vai người tài danh lỗi lạc hay đóng vai kẻ ăn mày cùng khổ ở xó chợ đầu đường, khi hạ màn kết thúc thì mọi việc đều không. Trong lúc giả trang tạm thời ấy, mọi sự được mất thành bại... đều là trò chơi. Người diễn viên thông minh đóng kịch, dù bi kịch hay hài kịch, khi sân khấu buông màn liền nở nụ cười, đây là trò đùa trên sân khấu, không có một chút hối tiếc hay lo buồn. Ðức Phật đã giác ngộ viên mãn, thấy rõ cuộc đời là vô thường ảo hóa, khi từ giã cuộc đời tự nhiên Ngài hé môi cười nhẹ.

+ Những thứ suy tư nghĩ tưởng trong nội tâm, mỗi con người chúng ta đều thừa nhận là tâm của mình, hoặc nhận là mình. Tôi suy tư thế này, tôi nghĩ tưởng thế kia, hoặc tôi nghĩ tôi tưởng. Do thừa nhận chúng là mình, nên chúng ra oai tác quái tạo đủ thứ nghiệp, cột trói lôi kéo mình lăn tròn trong lục đạo không có ngày thoát khỏi. Hằng ngày các thứ ấy lăng xăng lộn xộn bủa vây che đậy trong nội tâm chúng ta không một phút giây an ổn. Có khi chúng nó ồn ào náo loạn khiến đầu óc ta nóng rực bất an, cố van xin chúng cho ta được vài phút an lành, nhưng chúng nó nào có chịu tha, cứ tha hồ quậy, buộc lòng ta phải dùng thuốc an thần để kháng cự. Thậm chí những nhà tu hành cũng bực bội sự náo loạn của chúng, phải chạy tìm cầu "pháp an tâm". Có vị sợ sự trói buộc vô hạn định của chúng, phải đi cầu xin "pháp giải thoát". Gặp bậc thầy cỡ lớn, nhà tu hành liền đem ra hỏi "pháp an tâm". Ông thầy nghiêm nghị bảo "đem tâm ra ta an cho". Nhà tu hành sửng sốt phản quang soi lại thì bọn giặc ồn ào đã biến đâu mất, đành thưa "con tìm tâm không được". Bậc thầy nhếch mép cười bảo "ta đã an tâm cho ngươi rồi". Nhà tu hành bỗng dưng thấy bọn giặc ấy là một đám khói mây. Nhà tu hành khác thao thức lo sợ sự trói buộc của đám phiền não này, đi cầu thầy dạy "pháp giải thoát". Ông thầy cỡ lớn chỉ hỏi "ai trói buộc ông". Nhà tu hành tìm lại không thấy có gì trói buộc, liền thưa "không có ai trói buộc". Ông thầy cả cười bảo "cầu giải thoát làm gì?". Nhà tu hành bỗng dưng thấy trăm dây ngàn mối trước kia nhất thời đã biến đâu mất.

Khi thấy tột bản chất ảo hóa của các thứ tâm lăng xăng lộn xộn này, đức Phật chỉ còn cười với chúng mà thôi! Nếu ai còn lầm nhận chúng là mình thì bị chúng ra oai tác quái; trái lại người biết rõ bản chất hư ảo của chúng thì không bị chúng lừa gạt và khả năng lôi kéo của chúng cũng bị hạn chế. Thấy rõ các thứ tâm hư ảo rồi, đức Phật còn nhận ra tâm thể chân thật nơi mỗi con người là thênh thang trùm khắp, chưa bao giờ bị sanh diệt vô thường. Xả bỏ thân khổ đau nhớp nhúa, tạm bợ, thể nhập pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt (Niết-bàn), nhẹ nhàng an lạc biết mấy, thì làm sao đức Phật chẳng hé nở nụ cười an lành thanh thản. Không những Phật, mà các Thiền sư đệ tử Phật khi từ giã cuộc đời cũng cười. Tôn giả Pháp Loa khi sắp tịch để kệ:

Dịch âm:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,

Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,

Na biên phong nguyệt cánh man khoan.


Dịch nghĩa:

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn,

Hơn bốn muơi năm giấc mộng tràng.

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,

Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Ðeo mang thân này là đeo mang gông cùm, bệnh tật, bại hoại, khổ đau, buông xả được nó thì nhẹ nhàng thảnh thơi an lạc. Xả bỏ thân này đâu phải là hết, mà còn bầu trời mênh mông có trăng trong gió mát, còn gì thích thú bằng nên Thiền sư cười!

Người thế gian có khi cười có lúc khóc, hoặc cười xã giao, cười nhạo báng, cười gằn, cười gượng khóc thầm..., tất cả cái cười ấy đều thuộc về tình cảm sanh diệt. Cái cười của đức Phật, của Thiền sư là nụ cười giác ngộ thoát ra ngoài mọi thứ mê lầm, chỉ có cười mà không có khóc, gọi là "nụ cười bất diệt". Hơn nữa, vì đạt được thể vô sanh, mọi khổ đau sanh diệt đã trút sạch, thong dong tự tại đi trên con đường Niết- bàn, trên môi nở nụ cười rạng rỡ, nụ cười này thật là "nụ cười bất diệt". Như thế, có ai cả gan dám lớn tiếng bảo đạo Phật là bi quan. Ðạo Phật tạo cho con người niềm vui hiện tại và mãi đến mai sau. Chúng ta tu theo đạo Phật là vứt bỏ mê lầm để cho đời này được an lạc và giác ngộ để về sau mãi mãi an lạc. Chính đây là mục đích cứu khổ của đạo Phật. Ðạo cứu khổ cho chúng sanh, quả là đạo ban vui. Vì hết khổ là được vui, nên phải nói đạo Phật thực sự là lạc quan, mà là lạc quan vĩnh cửu.

Chữ Tu Trong Đạo Phật

Chữ Tu Trong Đạo Phật


Chắc ai cũng hiểu rằng, từ khi mới lọt lòng ra cho đến khi hơi thở cuối cùng, trong đời thường hưởng được mấy lần vui. Cơn vui vừa thoáng qua, cơn buồn lại kéo đến. Đã đành sanh, già, đau, chết là bốn đại hoạn, không ai tránh khỏi, mà những nổi đói nghèo áp bức, oán thù gặp gỡ, ân ái xa lìa, hoàn cảnh lôi kéo cũng đủ làm cho chúng sanh đau khổ vô cùng. Nước mắt ngập tràn cả đại thiên thế giới, mà vẫn còn dâng lên mãi nếu lòng tham lam dục vọng nơi mỗi cá nhân cũng như đoàn thể không được vùi dập phần nào; hành vi xấu xa độc ác, ích kỷ hại người không được sang bằng và tiêu diệt do lòng từ bi rộng lớn biết nghĩ đến mình, đến người theo công lý và chính đạo. Chúng ta chỉ ngó ngay vào cảnh tượng ngày nay cùng thấy rõ đó là biển nước mắt đau thương bởi cơn cuồng vọng của loài người gây tạo. Thế nên chúng ta tin chắc rằng tất cả đau khổ chỉ có một con đường ra là mọi người biết nhìn nhau bằng cặp mắt từ bi, hay nói một cách khác là người biết tu theo đạo chính đáng giác ngộ.

Xưa nay các bậc Thánh nhân, các vị đã giác ngộ như chư Phật, Bồ tát, không vị nào mà không trải qua con đường ấy; cho đến khi dạy người, dạy đời cũng chú trọng ở điều đó. Vậy bất luận người nào ở trong xã hội cũng cần lấy tu làm gốc, nếu không tự mình đã hư hỏng, mình đã làm tổn hại cho mình, thì mong giúp ích cho ai nữa?

Đời còn như thế, huống chi đạo Phật, một đạo chú trọng mục đích tự giác giác tha, tự lợi lợi tha hơn cả mà lại không quan tâm đền sự tu sao được. Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm rằng: "Như tuy lịch kiếp, ức trì Như Lai bí mật diệu nghiêm, bất như nhứt nhựt tu vô lậu nghiệp". Đại ý nói tuy nhiều kiếp học rộng nghe nhiều nhớ hết tất cả pháp môn của hằng sa chư Phật chỉ dạy, chẳng bằng một ngay chuyên tu nghiệp vô lậu xuất thế. Ấy là lời Phật khuyến cáo Tôn giả A Nan mà cũng là khuyến cáo cái tai hại không tu của chúng ta vậy. Nếu chỉ học mà không tu thì khác nào như người thuộc lòng tấm bản đồ rồi ngồi lỳ một chỗ, chẳng đến đâu được cả.

Thế thì biết tu là một điều cần yếu. Nhưng hiện nay, nhiều người trong hàng Phật tử chúng ta, cũng như một số đông ở ngoài vẫn còn ôm mối nghi ngờ sai lạc. Có người nghĩ rằng tu là một việc làm quá khó, phải xa gia đình, xã hội để ép mình trong một khuôn khổ hẹp hòi, bít mắt bưng tai trước mọi hoàn cảnh, vứt bỏ bao nhiêu ước mong khoái lạc mà tu hành ủy mị, hàng ngày nghĩ tưởng đến việc gì xa xăm huyền ảo, ỷ lại thần quyền để cầu mong tương lai trường sanh, bất tử hay hưởng quả phúc đời đời. Tu như vậy phỏng có ích lợi gì cho ai? Giả sử tu như vậy mà thành Thánh, thành thần, hưởng quả phúc thì lối tu chỉ thích hợp với hạng người thiếu nghị lực, hạng ông lão bà già!

Hạng người thứ hai thì trái lại, họ nghĩ rằng tu là một việc rất hay, là nền tảng cho nhân tâm thuần hậu, cho hòa bình an lạc, vững bền; song khi nào hòa bình đã lan khắp, sinh hoạt được mới có thì giờ nghĩ đến việc tu dưỡng; chứ nhằm lúc đao binh loạn lạc, đói khác tung hoành, chính là lúc phải ra sức dẹp loạn an dân, nổ lực làm lụng để vãn hồi sự no ấm, đợi bao giờ tâm thần ổn định mới lo đến chuyện tu. Những điều nghi hoặc đối với sự tu vẫn còn nhiều nữa, song tóm lại cũng không ngoài hai điều vừa kể trên. Cũng vì nghĩ như vậy, mà bây giờ hễ nghe nói chữ tu thì người ta tưởng tượng ngay một hình dáng yếu hèn, một việc làm quái dị lạc hậu, không phải thời.

Xét kỹ hai lối tưởng đó nhiều phần không đúng, song không sai mấy đối với hạng người mệnh danh là tu, mà kỳ thật áp dụng lắm điều không chính đáng! Nếu bây giờ muốn bổ cứu những khuyết điểm trên đây để làm nhiều lợi ích thiết thực cho khỏi phụ lòng tin Phật của chúng ta, thì tưởng cũng nên cùng nhau tìm hiểu rõ chữ "Tu" trong đạo Phật, trước để khỏi cái nạn xưng càn một khi mình không tu chi cả, sau để khỏi bị e ngại bởi những lời mỉa mai nông cạn có thể làm trở ngại bước đường tu tập chính đáng của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là ở đây chúng ta chỉ hiểu chữ "Tu" trong đạo Phật, chứ ngoài lối tu của đạo Phật ra, trên xã hội này còn bao nhiêu lối tu khác; mà tiếc vì phạm vi bài này không cho phép chúng tôi đem ra bàn cãi, chỉ có thể nói đại khái rằng các lối tu ấy đều chưa diệt tận nguồn gốc thống khổ, nên chưa phải là phương pháp đưa người đến chỗ giải thoát an vui chơn thật.

Thế nào là nghĩa chữ "Tu" trong đạo Phật?

Định nghĩa một cách tóm tắt thì tu nghĩa là sửa. Xấu xa sửa lại cho tốt đẹp, tà vạy sửa lại cho chính đáng, độc ác sửa lại cho hiền lành, mê mờ sửa lại cho sáng suốt... Như người ta thường nói ngọc có dũa mài mới thành đồ hữu dụng, người có học tập mới trở nên người hay, ấy đều là cắt nghĩa chữ "Tu" vậy. Có nhiều người hay nói: "Phật tức tâm, tâm tức Phật, tôi chỉ tu cái tâm cũng đủ". Mới nghe qua tưởng như hợp lý, song xét kỹ thì đó chỉ là câu nói bướng bỉnh để từ chối việc tu hành mà thôi. Nếu thử hỏi lại tâm vì sao phải tu và tu bằng cách nào, thì ít ai trả lời được. Thậm chí có người khi đã biết đạo cũng như khi chưa biết đạo, cứ giữ nguyên tánh xấu xa cố cựu, không chút gì đổi mới hay lo.

Đã đành rằng "Tâm tức Phật", nhưng hiện ngày nào còn làm chúng sinh thì quyết chắc tâm của ta còn mê lầm, vọng tưởng ích kỷ, biếng lười, chưa được như tâm Phật: sáng suốt, chân thật, rộng rãi, từ bi. Đứng về phương diện sự tướng sai biệt thì ta và Phật hai đàng mê ngộ, khổ vui khác nhau như trời và vực, không thể nói suông mà mong được giải thoát. Trái lại cần phải thành thật cố gắng kiểm điểm lại mình, nghiệm xét nơi mình để thấy rõ cái gì xấu xa, cái gì tà vạy, cái gì độc ác, cái gì mê lầm mà lần lần sửa đổi tu hành cho đến khi hoàn toàn viên mãn. Trong lúc tu hành ấy, hễ sửa được bao nhiêu điều hư quấy, tức là diệt được bấy nhiêu nguyên nhân thống khổ, sự khổ sẽ tách dần ra mà sự an vui lần hồi phát hiện, bao giờ hoàn toàn thanh tịnh ấy là chứng đủ bốn đức Thường, lạc, ngã, tịnh; không bị điều chi làm hệ lụy. Cho nên Kinh có câu: "Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như Lai". Như Lai hay Phật là vị đã chuyển được mọi vật, bên trong không bị tánh tình ô nhiễm làm mờ tối, và bên ngoài không bị hoàn cảnh sắc, thanh, danh, lợi quyến rủ chi phối. Tự mình làm chủ mình, làm chủ hoàn cảnh.

Nếu bây giờ chúng ta muốn được an vui, thì phải tự chủ; mà muốn được tự chủ thì cần nương theo Phật pháp để sửa đổi hành vi, tánh tình, quan niệm hẹp hòi sai lạc đã lâu đời lâu kiếp bám chắc nơi chúng ta. Sửa đổi hành vi tức là sửa đổi những điều độc ác của hành động và lời nói. Thân thường hay sát hại, trộm cắp, dâm ô; Miệng thường hay nói dối, dèm pha, nịnh hót v.v... ấy là hành vi có hại mà ít ai tránh khỏi. Nếu chúng nó được bồi đắp, lan rộng ra hoài thì nhân loại chúng sanh càng bị xô mau đến chỗ tiêu diệt. Hãy xem như một nghiệp sát, mấy năm lại đây không nơi nào là không do nghiệp sát gieo họa gớm ghê, làm cho sự sống, một điều mật thiết quan trọng hơn cả của mọi vật, không còn chút gì bảo đảm. Đã bao giờ như ngày nay, toàn nhân loại chỉ sống trong hồi hộp lo âu, nơm nớp sợ hãi khi thấy mạng mình nhẹ hơn cát bụi bên vệ đường, không phút nào yên tâm với bàn tay tàn nhẫn của nghiệp sát đang hung hăng chực chờ dọa nạt. Vậy là chưa kể đến tai nạn các hành vi trộm cướp, nói dối v.v...cũng gieo họa ghê gớm không kém.

Nếu ai nấy cũng nhận chân sâu sắc các hành vi ác độc kể trên là nguyên nhân trực tiếp gây ra đau khổ giữa người và mình, vì gieo nhân sát hại thì hoặc cách này hay cách khác cũng phải gặt lấy kết quả bị sát hại. Để sửa đổi, tu hành diệt trừ dần đi mới có ngày sống an toàn trong hòa vui thân mật được. Đã sửa đổi hành vi cũng phải sửa đổi tánh tình, vì tánh tình xấu xa mới thật nguy hại nhiều hơn. Tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ là những tâm tánh xấu xa cố cựu của chúng sinh cũng sửa luôn.

Vẫn biết đã có thân thì ai lại không tham muốn sống còn, nhưng lắm người vì chất chứa lòng tham vô đáy, điều gì hay ho đều muốn thu góp về phần mình, chỉ muốn đời sống của mình được vinh quang sung sướng, đầy đủ, quý trọng hơn hết thảy mọi người, nên dù việc gì đê hèn hay độc ác mà hễ đưa lại lợi lộc về mình thì không bao giờ từ chối, mặc ai thiếu thốn, khổ não, kêu la, cũng không hề đoái nghĩ! Thậm chí xem tiền tài, danh vọng hơn trăm, ngàn, ức triệu tánh mạng sanh linh đồng loại chỉ vì tham chút lợi danh mà làm cho đời sống nhân loại bị điêu đứng, niệm tham lam vô hình mà tai hại không phải ít, ở trong gia đình có một kẻ tham, tham ăn chẳng hạn, thì sự sống của gia đình mất sự hòa thuận; đến giữa xã hội hễ lòng tham nảy nở mạnh mẽ ở đâu thì ở đấy không sao tránh khỏi cảnh tình xô xát thảm mục thương tâm; vì đã tham tất nhiên có sân, đã sân thì tất nhiên tranh giành xâu xé.

Than ôi! Một tánh tham đã làm cho ai nấy cháy ruột nung gan, huống còn thêm bao nhiêu tánh xấu xa khác nữa. Song, muốn sửa đổi tâm tánh xấu xa một cách dễ dàng đến tận gốc thì đồng thời phải sửa đổi quan niệm hẹp hòi ích kỷ.

Tất cả mọi vật đều sanh sanh, hóa hóa trên một bản thể chung cùng hòa hợp, không có sự vật nào được tồn tại ra ngoài bản thể chung cùng ấy. Chính chúng ta cũng phải nhờ sự liên quan hỗ trợ tất cả mà có ra. Vậy mà chúng sanh mê mờ, tự phân biệt, tưởng tượng chấp riêng một cái Ta, xây ranh giới mà chắn ngang giữa mình và mọi người, mọi vật; luôn luôn đặt cái Ta ra trước, lên trên, lấy cái ta làm định chuẩn cho mọi hành động, nói năng, suy nghĩ. Bởi vậy nên thường bị hẹp hòi, sai lầm, khổ sở. Suy rộng ra nào vinh nào nhục, nào thị nào phi, không có gì là tuyệt đối. Cái vinh của người này là cái nhục của người kia, cái vinh của người kia tức là cái nhục của người này. Ở đời cũng lắm chuyện để cho ta thấy rõ trường đời là nơi đấu tranh nhỏ hẹp ở trong sự phê phán xây nắn của cái Ta hẹp hòi giả dối. Vậy cần phải mở mang trí tuệ thật rộng rãi, phá lần quan niệm sai lầm chấp có bản ngã mới thấy đời rất rộng rãi để khoan hòa đối với mọi loài, mọi vật.

Như vừa nói ở trên, đó là sửa đổi hành vi hung ác, sửa đổi tánh tình xấu xa, sửa đổi quan niệm chấp có cái Ta hẹp hòi, ấy là nói về ngăn ngừa cái xấu, diệt trừ cái xấu, đừng để cho nó đâm chồi mọc nhánh ra hoài. Tu như vầy có thể cho là lối tu tiêu cực hơn là phát huy cái tốt, khuếch trương cái tốt, làm cho cái tốt càng ngày càng rộng rãi lớn lao. Hiện tiền nơi chúng ta không những có rất nhiều điều tà vạy ô nhiễm, mà cũng có rất nhiều điều hay, cần nên bồi đắp, tu dưỡng; như bố thí, nhẫn nại, khoan hòa, sáng suốt, bình đẳng, xét ra chẳng ai không có, nếu biết cố gắng vun bồi thì không việc lợi ích gì mà chúng ta không làm được.

Tóm lại hai phương diện tu hành trên, một đàng lo diệt trừ cái tánh hại người hại mình, một đàng lo cái tánh lợi mình, lợi người. Đã nhận thấy lòng tham lam có hại mà lo diệt bớt lòng tham là tu, diệt trừ lòng giận là tu, diệt trừ lòng kiêu mạn, ích kỷ là tu. Trái lại nhận thấy bố thí là hay, chăm làm bố thí là tu, từ bi cứu vật là tu, khoan hòa rộng rãi là tu. Cho đến bất luận gì hành động tốt đẹp, có nhiều lợi ích cho người mà cố gắng quên mình để thực hành theo cũng đều gọi là tu cả. Tu như vậy đâu có phải là hẹp hòi hay nhu nhược, tu như vậy đâu phải là việc riêng của một nhóm người nào hay của một thời đại nào, chỉ vì có nhiều người chưa hiểu chữ "Tu" có một phạm vi rộng rãi đó, nên tưởng rằng tu là việc chuyên môn của người tu sĩ, của kẻ chán đời, ẩn dật, hay của hạng môn đồ đạo này hoặc đạo khác mà thôi, ngoài ra không liên quan với đại đa số người còn đang lăn lộn, chống chọi, hoạt động sống với đời sống không xa thực tế hơn. Ôi, đâu biết rằng cái quan niệm sai lầm ấy không khác nào cái quan niệm của mấy người tưởng phép vệ sinh là phạm vi chuyên môn của mấy ông Thầy thuốc, hay của mấy người đã mắc bệnh truyền nhiễm.

Đành rằng phương diện điều trị thân xác có nhiều điều ngóc ngách khó khăn mà Thầy thuốc phải gia công tầm cứu, phải cần cho mình một hoàn cảnh sạch sẽ hợp vệ sinh hơn, nhưng trong hạng người không phải Thầy thuốc mà không cần biết vệ sinh, tự do ăn nhớp ở nhúa thì không chỉ tai hại cho mình, còn lây sang mọi người xung quanh, khiến họ phải sống chung trong một cảnh ngộ nguy hiểm. Phương diện trị thân xác đã vậy, thì phương diện cải tạo tinh thần không kém chi. Muốn diệt hết bao nhiêu tâm niệm xấu xa còn lại, và phát huy tất cả tâm niệm tốt đẹp rộng rãi thêm lên lại càng rất khó, nếu không phải là người có quyết tâm với mục đích ấy, nếu không có một hoàn cảnh thuận tiện cho sự tu hành thì khó mong kết quả hoàn toàn. Bởi vậy trong đạo Phật các vị Tăng già, các hàng tu sĩ phải xuất gia để bớt ngoại duyên phiền nhiễu, phải ở nơi nhàn tịch mới thấy rõ nguồn gốc sâu xa của tội lỗi mà gội rửa tiêu trừ. Nhưng nếu hiểu thêm rằng không phải là chỉ mấy vị ấy mới tu được, mấy vị ấy mới cần tu, mà tất cả các hạng người ở vào địa vị nào trong thời loạn cũng như thời bình, đều có thể tu, đều cần nên tu cả; nếu không tu tức là tự do để cho thói tham lam, bóc lột, ích kỷ hại người đứng lên làm chủ, gây tai ương không bờ, không bến.

Vậy ta có nên xem chuyện tu là việc ngoài phận sự của mình không? Ta có thể không nhận rõ nghĩa chữ "Tu" được không? Hãy nên nhận chân cho rõ, xem đó là một phương châm của đời sống thật thà mà không trao đưa cho ai cả, chỉ tự mình gắng thực hành lấy và khuyên lơn người khác biết mà thực hành, để cùng nhau xây dựng nên một cảnh sống yên vui, bền vững tạo cảnh Cực Lạc giữa Ta bà này. Nếu được như vậy tức là đã hiểu đã thực hành đúng nghĩa chữ " Tu" trong đạo Phật.

Sống trong hiện tại

Sống trong hiện tại


Tất cả chúng ta đều bắt đầu cuộc hành trình vào tâm linh, cuộc hành trình để khám phá và thám hiểm xem "ta là ai?, ta là gì?". Bước đầu tiên thật khó khăn trong nghững ngày đầu tiên hành thiền chúng ta thường dao động buồn ngủ chán nản, lười biếng hoài nghi, và còn có lúc cảm thấy ân hận: tại sao ta lại đi hành thiền? Chuẩn bị và quyết định bỏ ra một thời gian để thanh lọc tâm không phải là chuyện dể dàng, không ai có thể hành thiền thay cho ta. Chúng ta phải tự hành thiền lấy, hãy luôn luôn chánh niệm chú tâm vào những gì đang diễn ra, không có gì huyền bí cả, Việc hành thiền thật đơn giản, trực tiếp và thường đến mục tiêu nhưng phải bỏ công ra mới được. Ðó là ý nghĩa của thiền, bước đầu tiên thật khó, khám phá tâm linh là một công trình tìm hiểu hiếm hoi và quý giá. Hãy bình tâm và kiên nhẫn trong những bước đầu tiên khó khăn này, hãy tận dụng cơ hội hành thiền đừng bỏ phí thì giờ, đừng nghĩ rằng mình đã làm đủ.

Hạnh phúc cao nhất
Hạnh phúc cao nhất là hạnh phúc của sự quán chiếu nội tâm, thấy rõ diễn tiến của sự vật. Người nào với tâm đơn sơ mộc mạc, biết thưởng thức rằng mỗi một phút giây đều tươi mát đều mới mẽ, sẽ hưởng hạnh phúc lớn lao, niềm hỷ lạc to lớn trong hiện tại, sẽ đến từ một cái tâm đơn giản mộc mạc không điều kiện, nhận biết trực tiếp không xuyên qua sự suy nghĩ. Những ngày đầu tiên của một khoá thiền có vẻ khó khăn vì sự tập trung tâm ý chưa phát triển. Leo núi cần có sức mạnh thể chất. Nếu không đủ sức mạnh thì ngay từ lúc đầu, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi không thoải mái nhưng khi cơ thể bắt đầu mạnh hơn, việc leo núi sẽ dễ dàng hơn. Việc hành thiền cũng vậy, khi sự tập trung tâm ý ngày càng mạnh thì việc an trụ tâm sẽ bớt khó khăn hơn Thực hành và hiểu biết giáo pháp là một điều rất hiếm hoi và quý giá, ít người có được cơ hội này. Phần lớn chúng ta đang chạy quanh một vòng lẫn quẩn được lèo lái bởi si mê và tham ái, chúng ta không biết rằng chúng ta có đủ khả năng để thoát khỏi vòng luân hồi, ái dục và sân hận đó. Tham ái và ngũ dục làm cho tâm náo động và hổn loạn. Khi biết xã bỏ, tâm sẽ nhẹ nhàng không còn rối loạn căng thẳng, thoát khỏi mọi điều kiện không bị chìm đắm vào dục lạc ngũ trần.

Phát triển trí tuệ qua việc hành thiền là kinh nghiệm sự vô thường biến đổi trong chúng ta. Nhờ kinh nghiệm được sự vô thường, chúng ta có thể xã bỏ, không dính mắc vào các chuyển biến của thân và tâm. Có ai dám chắc rằng cơ hội hành thiền sẽ đến với mình lần nữa? Ðây là một dịp hy hữu, đây là chốn lý tưởng để chúng ta thám hiểm và khám phá chính mình, đừng bỏ lở cơ hội. Việc chúng ta đang làm là tự tìm hiểu mình. Ðây là một việc làm cao quý và thánh thiện, đây là việc loại trừ phiền não trong tâm, tham lam sân hận si mê. Ðây là việc khó khăn và hiếm hoi và đòi hỏi sự hoàn mỹ, hoàn mỹ là đào luyện tâm, tạo cho tâm có đặc tính luôn luôn tĩnh thức trong mọi lúc.

Ðừng kiểm soát hay thúc ép hơi thở. Chỉ cần chú tâm ghi nhận phồng xẹp của bụng. Chỉ chú tâm vào chuyển động của bụng, Ðừng tưởng tượng, đừng tạo ra một hình ảnh nào trong tâm. Hãy ghi nhận một cách khách quan mọi diễn biến của chuyển động. Nếu vọng tâm phát khởi, hãy ghi nhận rồi nhẹ nhàng đưa tâm về. Dầu cho suốt giờ bạn chỉ làm công việc đưa tâm trở về đề mục chính mỗi khi nó đi ra ngoài thi bạn cũng đã sử dụng trọn vẹn thời giờ của mình. Sự phồng xẹp có thể đôi lúc dài, đôi lúc ngắn, đôi lúc rõ, đôi lúc mờ, đôi lúc sâu, đôi lúc cạn, dầu thế nào đi nữa thì hãy luôn luôn nhớ rằng đây không phải là việc tập thở mà là bắt đầu tập tĩnh thức. Ðiều quan trọng là phải đào luyện cho mình có sự tĩnh thức đều đặn trong mọi lúc, từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ. Vừa choàng dậy là tâm nằm ngay ở phồng xẹp, rồi tiếp tục chánh niệm các tác động khác, ngồi dậy, bước xuống giường, súc miệng, rửa mặt, ăn điểm tâm, trước khi đi ngủ hãy chú tâm vào phồng xẹp cho đến khi rơi vào giấc ngủ. Ðây là một loại chú tâm đem lại lợi ích lớn lao trong việc hành thiền.

Nếu nghĩ rằng chỉ có lúc ngồi và đi mới là hành thiền, còn lúc nghỉ thì không quan trọng, thì bạn đã làm cho việc hành thiền gián đoạn và mất trớn. Cần phải chánh niệm liên tục trong mọi tác động. Ðây là việc làm đem lại sự hổ trợ lớn lao trong việc duy trì định tâm. Ðây là loại tâm kiên định và quân bình đưa đến giác ngộ.

Khi ăn phải luôn luôn chú tâm: thấy - thấy, muốn - muốn, di chuyển - di chuyển, đụng - đụng, dỡ - dỡ, mở - mở, đưa vào - đưa vào, ngậm - ngậm, cảm giác - cảm giác, nhai - nhai, nuốt - nuốt. Chánh niệm liên tục vào tất cả mọi tác động. Chẳng có ai núp đàng sau những tác động này. Không có ai ăn, chỉ có một loại cảm giác tác động nối đuôi nhau, ý định chuyển động ý thức mùi vị cảm giác xúc chạm. Khi chú tâm chánh niệm vào các diễn biến của thân - tâm thì cái "ta" biến mất. Bất kỳ lúc nào và ở đâu cũng có thể hành thiền, chẳng có hoàn cảnh nào không thích hợp cho việc tĩnh thức. Thoát nhiên đại ngộ có thể đến với bạn bất kỳ lúc nào khi các yếu tố giác ngộ chín mùi và quân bình.

Lúc ở Ấn-độ, tôi sống trên một căn gác. Hằng ngày tôi lên xuống cầu thang nhiều lần, mỗi lần như thế tôi khám phá ra bộ máy hoạt động của mỗi bước đi đầu gối chuyển động ra sao, sức nặng chuyển biến như thế nào, v.v. Sự chú tâm vào các tiến trình chuyển động này đem lại nhiều lợi ích và thích thú. Trong mọi tác động đều hàm chứa các lợi ích như vậy. Hãy nhìn, hãy khám phá xem sự vật diễn ra như thế nào. Chúng ta thường thất niệm trong khi ăn. Hương vị đến và đi thật nhanh. Vì tham muốn thưởng thức liên tục nên trong khi miệng còn đang ngậm thức ăn mà tay đã gắp miếng khác, chúng ta chẳng biết đến tiến trình của sự ăn. Hãy nuốt hết thức ăn trong miệng trước khi gắp miếng khác, làm như thế chúng ta sẽ trở nên nhạy bén với cơ thể mình và biết được số lượng thực phẩm cần dùng cho cơ thể chúng ta sẽ không bị ăn quá độ nếu biết ăn trong chánh niệm. Chánh niệm ngay cả lúc ăn uống giúp chúng ta duy trì chánh niệm liên tục suốt ngày không chừa một khoảng hở nào khiến phiền não có thể xen vào. Chẳng biết lúc nào đám mây si mê che mờ tâm trí tan biến, chẳng biết lúc nào sự giác ngộ sẽ đến với bạn, sự giác ngộ có thể tới bất kỳ lúc nào, ngay cả lúc bạn đang nằm xuống ngủ. Vậy phải chánh niệm mỗi phút giây đều phải được theo dõi, luôn luôn tĩnh thức trước những gì đang xảy ra. Thiền sẽ chín mùi nhờ liên tục chánh niệm.

Chú ý đơn thuần

Chú ý đơn thuần có nghĩa là quan sát sự vật một cách khách quan đúng theo thực trạng của nó, không chọn lựa, không so sánh, không đánh giá, không kỳ vọng hoặc tính toán can thiệp vào chuyện đang xảy ra. Hãy đơn thuần chánh niệm. Một cái tâm thiếu huấn luyện luôn luôn phản ứng dính mắc vào lạc thú chán ghét khổ đau, nắm giữ cái ưa thích, xua đuổi cái ghét bỏ, phản ứng với chuyện xảy ra qua tham ái và sân hận. Ðó là một cái tâm bất quân bình mỏi mệt. Khi sự quan sát đơn thuần được phát triển, dần dần chúng ta phải đối diện với tư tưởng và cảm giác của mình, với hoàn cảnh và với tha nhân một cách khách quan, không bị tham ái và sân hận chi phối. Chúng ta sẽ bắt đầu có được sự bình an và quân bình khi đối diện với những gì đang xảy ra, không phải chỉ những giờ ngồi thiền sáng, tối mới áp dụng sự quan sát đơn thuần và tĩnh thức, cho rằng chỉ có lúc ngồi thiền mới cần tĩnh thức, những lúc khác không cần chánh niệm. Ðó là ý nghĩ sai lầm, chôn vùi cuộc sống chúng ta và làm cho sự hiểu biết không phát triển. Phải luôn luôn áp dụng chánh niệm trong mọi lúc mọi nơi, dù bạn đang ngồi, đang đứng đang nằm, đang nói hay đang ăn, phải đào luyện để luôn luôn có sự chú ý đơn thuần trên mọi đối tượng, mọi trạng thái hay phản ứng của tâm và mọi hoàn cảnh, mỗi phút giây phải được sống trọn vẹn với tất cả tâm hồn.

Trong thời gian hành thiền, mọi tác động đều phải làm chậm lại để chúng ta có cơ hội quan sát thấu đáo những gì đang xảy ra. Khi chánh niệm đã được vun bồi phát triển, bạn có thể làm nhanh hơn, nhưng bây giờ là lúc bạn đang thực tập. Vì vậy đừng vội vã, làm việc một cách chậm rãi trong yên lặng và tĩnh thức ngay từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ. Bạn phải tĩnh thức trong mọi lúc, lúc nào cũng hành thiền. Mọi tác động đều làm chậm lại sẽ dẫn đến những lợi ích lớn lao, không vội vã không có nơi để đi, không có việc để làm, chỉ cần trở về với thực tại.

Tinh tấn nhưng thư thái

Tinh tấn nổ lực với ý nghĩa là tiếp tục và không dừng nghỉ. Nổ lực tinh tấn, nhưng phải làm với sự cân bằng và thanh thản, hãy kiên trì dầy nổ lực nhưng thật thoải mái và quân bình. Hãy thoát ra khỏi hang tăm tối đến nơi sáng sủa tự do và an bình. Mỗi người đều có một cách thăng tiến riêng, cách nào cũng được, chỉ cần chọn đúng hướng đi. Việc làm của chúng ta là tiếp tục hành trình, dầu phải trải qua một năm, sáu mươi năm, hay năm mười kiếp sống. Bao lâu chúng ta còn hướng về sự giải thoát là được rồi. Tĩnh thức sẽ được khai triển trọn vẹn nếu đối diện với sự vật và quan sát nó với tâm tĩnh lặng, không qua sự suy nghĩ hay khái niệm nào.

Hãy theo dõi kỷ càng để biết tư tưởng phát sinh từ không rồi trở về không như thế nào. Hãy đi vào trong cơn đau, ở trong cơn đau để quan sát. Hãy huấn luyện tâm trong tinh thần thanh thản vô úy, không suy nghĩ mà chỉ yên lặng tỉnh giác quan sát. Nhiều lúc suốt buổi thiền, bạn chẳng thấy gì ngoài sự đau nhức, bất an, dao động và hoài nghi, nhưng thực ra mỗi giây phút tĩnh thức, mỗi giây phút chánh niệm sẽ làm suy yếu những mắt xích ái dục. Tất cả những điều chúng ta cần là quay mặt về hướng giải thoát. Ðừng đi ngược lại, cũng đừng đi về hướng đen tối hơn. Hãy dịu dàng với chinh mình, mặc dầu chưa thấy những biểu hiện rõ ràng nhưng một chuyển biến lớn lao đã diễn ra ở trong bạn như trái đang chín trên cây, dưới ánh nắng mặt trời trái sẽ chín dần mỗi ngày một ít, mặc dầu ta không thấy được tiến trình của nó. Cũng vậy, sự thay đổi và chín mùi trong tâm ta cũng đang tiếp diễn.

Hãy nhớ rằng Ðức Phật chỉ là người hướng đạo, mỗi người phải tự đi trên con đường của mình, không ai có thể đắc đạo thay cho kẻ khác. Tham lam sân hận và si mê nội tại trong tâm chúng ta, không ai đặt chúng vào đấy, không ai lấy chúng ra, chúng ta phải tự thanh lọc tâm mình. Một trong những trở ngại lớn lao trên đường giác ngộ là tâm hoài nghi. Chừng nào nhìn thấu suốt nó, tâm mới không còn hoài nghi bất động. Chúng ta luôn luôn hoài nghi, luôn luôn đặt câu hỏi: thế nào? tại sao? có nên không? có thể là vậy không? Hoặc là luôn luôn đặt câu hỏi, luôn luôn hoài nghi. Hoài nghi cản trở nổ lực truy tầm chân lý của chúng ta. Hoài nghi thường khởi dậy từ những nghi vấn: ta đang làm gì và khả năng để làm việc đó? Có lẻ vì bạn đã có mặt ở đây nên sự suy nghĩ đến hoài nghi là một trở ngại lớn lao trên đường giác ngộ. Nhận diện được phiền não là năng lực lớn lao và là phương cách hữu hiệu, phương cách hiệu nghiệm để vượt qua chướng ngại. Một trong những cách đương đầu với chướng ngại trên đường giác ngộ là trực diện chúng quan sát chúng thật kỷ càng trong từng khoảnh khắc. Nếu tham ái phát sinh, hãy ghi nhận và biết ngay rằng tâm đang dính mắc. Cố gắng nhận ra tức thì mỗi một chướng ngại khởi lên. Tham lam, sân hận, buồn ngủ, dao động, hoài nghi, tất cả đều phải được ghi nhận. Nhận diện hay nhận biết rõ những gì đang xảy ra dẫn đến chánh niệm. Hãy kham nhẫn với mọi người, nhưng trước hết phải kham nhẫn với chính mình, đừng phiền trách sự bất toàn sự khiếm khuyết của mình. Hãy luôn luôn mạnh dạn tự tin và khởi dậy một sự dũng cảm mới mẽ. Hãy tiếp tục bắt đầu tạo tinh tấn mới và đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã làm đủ. Ðó là cách phát triển tâm linh một cách tốt đẹp.

Kiên nhẫn là ở trong tình trạng quân bình, chẳng cần để tâm đến những gì đang xảy ra, thanh thản thoải mái và tĩnh thức. Kiên nhẫn đừng để ái dục hướng dẫn hành động của mình. Nếu không đủ nghị lực để kiên nhẫn thì mỗi ái dục đến sẽ dẫn ta dến hành động và chúng ta sẽ lăn lộn mãi trong vòng tham ái. Không ai có thể kiên nhẫn thay cho bạn, không ai có thể giác ngộ thay cho kẻ khác. Ðức Phật chỉ là người chỉ đường. Chúng ta phải tự đi lấy. Ðừng chán nãn khi bị vọng tâm. Mỗi khi bị phóng tâm, hãy ghi nhận sự phóng tâm, rồi nhẹ nhàng đưa tâm trở về đề mục chính. Phóng tâm bao nhiêu lần không thành vấn đề, chỉ cần nhận ra sự phóng tâm rồi trở về đề mục chính là bạn đã hành thiền tốt đẹp. Ðừng xem sự suy nghĩ như một trở ngại hay phiền não. Suy nghĩ chỉ là một đề mục khác để chánh niệm, một đề mục khác để hành thiền. Ðừng để tâm trở nên lười biếng và lang bạt. Hãy nổ lực tinh tấn để quan sát cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại này.

Khi có sự suy nghĩ xảy ra, hãy đơn thuần ghi nhận và đừng nhảy vào trong sự suy nghĩ, đừng phân tích sự suy nghĩ và tìm hiểu tại sao lý do nó đến. Chỉ cần chánh niệm ghi nhận lúc sự suy nghĩ xảy ra, nên niệm thầm "suy nghĩ, suy nghĩ". Khi tâm suy nghĩ điều gì, chỉ thuần quan sát mà không phán đoán phản ứng thích hay không thích. Không xem sự suy nghĩ là tôi hay của tôi, không đồng hóa mình với sự suy nghĩ. Hãy cố gắng ghi nhận kịp thời mỗi khi có sự suy nghĩ phát sinh, đừng chậm trễ. Khi sự suy nghĩ được ghi nhân kịp thời và chính xác thì bạn không còn bị chúng quấy nhiễu nữa.

Trong khi ngồi thiền, hãy cố gắng ngồi yên đừng nhúc nhích cựa quậy vì thân tĩnh lặng giúp tâm tĩnh lặng. Một phương cách giúp tập trung tâm ý mạnh là lúc bắt đầu ngồi hãy tự hứa hay nguyện sẽ không thay đổi tư thế, không nhúc nhích không cựa quậy. Lúc mới hành thiền thì việc ngồi yên bất động hơi khó khăn đấy, nhưng nếu bạn có nguyện lực hay quyết tâm mạnh mẽ, bạn sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp, và có thể bình tâm quan sát mọi diễn biến của thân và tâm. Dầu cho tâm bạn dao động, bất an, căng thẳng hay khó chịu vì đau nhức, bạn cũng hãy kiên trì chịu đựng và nguyện ngồi yên bất động. Chẳng bao lâu sau mọi chướng ngại trên sẽ dần dần tan biến.

Ðịnh tâm và tinh tấn là hai yếu tố quan trọng trong việc hành thiền bạn. Hãy kiên trì với ý chí và nghị lực. Chẳng bao lâu sau bạn sẽ dễ dàng giữ thân an tâm lạc. Việc hành thiền sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có nỗ lực cố gắng và kiên trì. Tinh tấn là gốc rễ của thành công, là nền tảng của mọi kết quả tốt đẹp. Hãy quyết định hay nguyện ngồi một giờ không nhúc nhích. Sự quyết định hay nguyện này giúp tâm mạnh mẽ và tinh tấn lực càng gia tăng. Khi thân an sẽ dẫn đến tâm an và định, huệ sẽ mạnh mẽ. Khi quyết định ngồi một giờ không nhúc nhích, chắc chắn chúng ta sẽ phải đương đầu với mọi chuyển biến và mọi cảm giác khó chịu đang xảy ra và thấy được mọi phản ứng của tâm đối kháng lại các biến chuyển khó chịu này.

Bất an và giao động

Hãy chánh niệm ghi nhận bất an và giao động. Quan sát tâm xem giao động đến và đi như thế nào. Dầu đang ở tư thế nào, đi, đứng, ngồi, nằm, nếu bất an đến hãy ghi nhận "bất an, bất an", và luôn luôn quan sát ghi nhận các sự bất an và giao động đó ./.

Saturday, October 2, 2010

Tin Vãng Sanh

Được tin Phu Quân của chị Nguyễn Kim Yến là :

Anh Nguyễn Minh Trí
Pháp Danh: Từ Thanh Tuệ


Đã mãn phần lúc 10:45 sáng ngày 2 tháng 10 năm 2010 dương lịch nhằm ngày 25 tháng 8 năm Canh Dần tại San Jose, California.
Hưởng thọ 67 tuổi.

Tang gia xin miễn nhận vòng hoa.

Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam, thành tâm cầu nguyện hương linh :
Anh Nguyễn Minh Trí
Sớm được HOA KHAI KIẾN PHẬT

Đồng thành kính
Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam

Saturday, July 31, 2010

Thư Ngõ tháng 7/2010 của anh Phan Tùng


Thân mời xem thư ngõ của anh Minh Thông Phan Tùng về Lễ Hiệp Kỳ và cứu trợ của GĐPT Chánh Đạo ở Vietnam.

Monday, July 12, 2010

Chị Phối du lịch ở Mỹ









Cám ơn chị Hoàng đã gởi về một số hình ảnh mới của chị Phối đang du lịch ở Mỹ.
CLICK vào hình để phóng to ra.