Thursday, March 3, 2011

Tiểu Sử Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh

Minh Chánh đọc được bài báo về hoạt động của Cư Sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh trên báo Việt Báo hôm nay 03/03/2011.  Ông Phạm Kim Khánh là thân phụ của các cựu đoàn sinh Chánh Đạo Phạm Kim Ngôn, Phạm Kim Nguyên và Phạm Thị Nga.

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011) Ra Đi
(03/03/2011) (Xem: 302)
Tác giả : Bình Anson
Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011) Ra Đi

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh.

Bình Anson

Chúng tôi nhận được tin Bác Phạm Kim Khánh vừa từ trần vào ngày 27 tháng 2, 2011, tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, hưởng thọ 92 tuổi. Xin chép lại đây bản tiểu sử của Bác. Nguyện cầu Bác đạt được đạo quả giác ngộ giải thoát.
*
Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh sanh ngày 10 tháng 1 năm 1921 tại Bến Tre, trong một gia đình vọng tộc lâu đời ở Bà Rịa. Ông Nội là Hương cả, văn hay chữ đẹp. Thân phụ ông là Đốc phủ sứ Phạm Kim Chi, thân mẫu là cụ bà Lâm Thị Tỵ. Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người con thứ 7 trong gia đình có 5 trai 3 gái. Cư sĩ mồ côi mẹ khi ông mới được 4 tuổi. Ở tuổi 45 đầy quyền thế nhưng không tục huyền, cụ ông dành trọn thì giờ rảnh rang lo giáo huấn con cái rất nghiêm, và tham gia các công việc bảo tồn văn hóa học thuật nước nhà. Khi tùng sự tại Hà Tịnh, cụ ông có duyên được người cháu ba đời của văn hào Nguyễn Du là tiến sĩ Nguyễn Mai tặng cho bản sao quyển Kim Túy Tình Từ. Cụ dày công nghiên cứu, phiên chú và xuất bản năm 1917 (về sau, được Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tái bản năm 1972 tại Sài Gòn).
Cư sĩ Phạm Kim Khánh từng học qua các trường tiểu học ở Mỏ Cày, trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, và trường Providence ở Huế, tới cấp bậc Tú tài. Ông tinh thông không những Pháp văn mà cả Anh văn và có nhiều hiểu biết về những danh từ Pàli. Cái học của ông là cái học của hàng học giả, tự nghiên cứu, tìm tòi, bồi đấp lấy, thâm hậu và vững vàng. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng Thiên chúa giáo, ông cũng biết đến đạo Phật qua tạp chí Niết Bàn của hội Thông Thiên Học và tạp chí Từ Bi Âm của hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, do cụ thân sinh mua dài hạn cho đọc.
Vào thời thanh niên, trong những năm 1948-1955, ông làm Trưởng phòng Phim-ảnh (ciné-photo) tại Cao Ủy Phủ Xứ Cam Bốt (Haut Commissariat du Cambodge). Nhờ thế ông có nhiều dịp -- gần như hằng đêm -- cho chuyên viên đem xe phát điện và chiếu bóng đến các sân chùa, chiếu phim cho công chúng xem. Ông từng gặp và có cảm tình với chư Tăng Nam tông vì các ngài hiền lành; nhưng vì còn có nhiều định kiến về tinh thần phục vụ xã hội nên lúc ban đầu, ông không thích Phật giáo. Ông thường thắc mắc tại sao các vị sư không sản xuất mà lại đi khất thực, chỉ có tiêu thụ mà không thấy sản xuất, đóng góp cho xã hội.
Về sau, ông mới biết rằng Phật giáo gồm bốn hạng gọi là tứ chúng. Hàng xuất gia gồm tỳ khưu và tỳ khưu ni, và hàng cư sĩ là thiện nam và tín nữ. Hàng cư sĩ có phận sự cung cấp phần vật chất cho hàng xuất gia. Ngược lại, hàng xuất gia cung cấp về phần tinh thần đến hàng tại gia cư sĩ. Ông chưa có duyên đi vào đạo mặc dầu nhạc phụ (Đốc phủ sứ Lê Thành Long, từng là phó Hội trưởng Hội Thông Thiên Học) từng giảng đạo Phật cho ông nghe, như về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, v.v. Ông chỉ vâng vâng dạ dạ cho vui lòng nhạc phụ, chứ không chú ý lắm.
Năm 1959, cư sĩ được nhạc phụ cho biết thị xã Bà Rịa sẽ có tổ chức tiếp đón Đại đức Nàrada Mahà Thera từ Tích Lan sang hoằng pháp. Sau đó, cả gia đình bên vợ đều quy y với Ngài Nàrada, ngoại trừ cư sĩ. Tuy nhiên, về sau, khi nghe trọn 12 thời pháp tại chùa Kỳ Viên, Quận 3, Sài Gòn, ông hiểu được và thấm thía, nên tháng 9 năm đó, cư sĩ Phạm Kim Khánh xin quy y Tam Bảo và được Ngài Nàrada ban pháp danh là Sunanda (Thiện Duyên).
Từ khi quy y Tam Bảo, cư sĩ dành trọn thì giờ học hỏi giáo lý, có khi bỏ cả giờ ăn trưa, nghĩ trưa, để đến chùa Kỳ Viên tham vấn Ngài Nàrada. Khoảng đời bận rộn nhất là những năm dài làm chủ biên cùng lúc cho chín tờ đặc san tại Sài Gòn, như Thế Giới Tự Do, Hương Quê, v.v. nhưng ông vẫn nỗ lực kiên trì sáng tác và dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo nổi tiếng.
Nổi tiếng nhất có lẽ là quyển "Đức Phật và Phật Pháp" (The Buddha and His Teachings, nguyên tác Anh ngữ của Ngài Nàrada), được xuất bản tại Sài Gòn bằng hai thứ tiếng Anh và Việt. Bản Việt ngữ do cư sĩ Phạm Kim Khánh chuyển dịch, với 4.000 quyển đầu tiên được in ra vào năm 1970, và sau đó một năm, được tái bản thêm 4.000 quyển. Từ đó đến nay, quyển này đã được in lại rất nhiều lần, trong nước cũng như tại hải ngoại, và được xem như là một trong những tài liệu căn bản quan trọng trong các khóa Phật học. Năm 1998, cư sĩ đã hiệu đính lại bản dịch đó, dựa theo ấn bản Anh ngữ cuối cùng của Đại đức Nàrada, trước khi Ngài viên tịch.
Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người có công lớn trong ban xây dựng và quản trị Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu với nhiệm vụ Tổng Thơ Ký Ban Quản Trị. Ông cũng là Tổng Thơ Ký Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam cho đến năm 1975.
Từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục các công tác hoằng pháp, đóng góp nhiều Phật sự. Ông là một trong 12 vị cư sĩ đầu tiên đứng ra thành lập chùa Cổ Lâm tại Seattle, Hoa Kỳ. Đặc biệt nhất, ông thành lập Trung Tâm Nàrada vào tháng 9 năm 1987, để ấn tống và phát hành băng và sách Phật giáo. Trung tâm hoạt động đều đặn, tháng trước cuộn băng, tháng sau quyển sách, cho đến tháng 9 năm 1997 thì ngưng vì bà phối ngẫu, cộng tác viên trung thành của ông, trở bệnh nặng.
Tuy tuổi đời chồng chất, trông ông không hề mỏi mệt với sở nguyện hộ trì và hoằng dương chánh pháp. Tánh hài hước u mặc nhạy bén vẫn cứ như xưa. Mỗi tháng ông tổ chức họp mặt các đạo hữu để cùng nhau hành thiền, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi giáo pháp. Mỗi ngày, ngoài giờ hành thiền, ông vẫn đều đặn dịch thuật và trước tác. Ông có nguyện vọng thực hiện một cuốn sách với nhiều hình ảnh về Phật Giáo Miến Điện, tương tự như cuốn Hành Hương Xứ Phật.
Được hỏi về tương lai Phật Giáo cho người Việt Nam hải ngoại, ông mong mỏi được thấy hai phần -- vật chất như chùa chiền, và tinh thần như giáo pháp -- phải được quân bình. Giới trẻ chịu ảnh hưởng tân học hầu như thích nghe giáo pháp, muốn biết Đức Phật là ai và Đức Phật dạy những gì, hơn là chỉ tụng kinh tu phước như những người có tuổi. Phật Pháp rất thích hợp với khoa học nên ông mong rằng người Phật tử cần được nghe giáo pháp nhiều hơn nữa. Ở các nước Tây Phương, phần lớn người theo Phật giáo là hạng trí thức; họ tìm hiểu và chỉ chấp nhận khi đã hiểu. Trong Phật giáo không có đức tin mù quáng. Người Phật tử không bị bắt buộc phải tin điều gì nếu mình không hiểu như thế.
Sau đây là những gì ông đã thực hiện được:
A. Sáng Tác
1. Đóng góp phần lớn hình ảnh cho hai quyển: a) Indochine Profonde -- Illustrations photographiques. J.P. Dannaud, do Cao ủy Phủ Đông Dương xuất bản năm 1954; và b) Cambodge. J.P. Dannaud, Société Asiatique d'Éditions, Saigon, 1959.
2. Phật Giáo, Một Sự Nghiệp Tinh Thần Của Người Việt Nam. Phỏng viết theo một thời Pháp của Ngài Nàrada, 1961.
3. Tứ Diệu Đế. Phỏng viết theo những thời Pháp của Ngài Nàrada, 1964.
4. Thánh Tích Thích Ca Phật Đài. 1972.
5. Ba Pháp Tu Học Của Người Cư Sĩ. 1987.
6. Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo Nguyên Thủy Tại Việt Nam (viết chung với Bác Sĩ Nguyễn Tối Thiện), 1990.
7. Nàrada Mahà Thera. 1992.
8. Tam Quy Ngũ Giới. 1992.
9. Con Đường Cũ Xa Xưa. 1993.
10. Ba Đặc Tướng Của Đời Sống (viết trong thập niên 1990).
11. Ngụ Ngôn Và Tích Chuyện Trong Phật Giáo. 1996.
12. Hành Hương Xứ Phật. 1997.
13. Nhiều bài nghị luận đăng trong Tạp chí Đường Sáng, Chùa Cổ Lâm, Hoa Kỳ, và những bài viết ngắn rải rác đó đây.
B. Dịch Thuật
1. Hạnh Phúc Gia Đình. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In lần thứ nhất tại Việt Nam, 1962. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp và Hoa kỳ.
2. Sống Trong Hiện Tại. Tác giả: Ananda Pereira. 1963. In lần thứ nhất tại Việt Nam và tái bản tại Hoa Kỳ.
3. Phần Giản Dị Trong Phật Giáo. Tác giả: Kassapa Thera. 1964. Tái bản tại Hoa Kỳ (1992).
4. Lý Nhân Quả. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1965.
5. Thoát Đến Thực Tế. Tác giả: Ananda Pereira. 1967. Tái bản tại Hoa Kỳ (1991).
6. Suy Niệm Về Hiện Tượng Chết. Tác giả: V.F. Gunaratna. In tại Việt Nam (trong thập niên 1960). Tái bản tại Hoa Kỳ (1997).
7. Nhẹ Gánh Lo Âu. Tác giả: Sri Dhammananda. 1968. Tái bản nhiều lần tại Hoa Kỳ.
8. Phật Giáo Vấn Đáp. Tác giả: Francis Story. 1969.
9. Đức Phật Và Phật Pháp. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In tại Việt Nam, 1970. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp, và Hoa Kỳ.
10. Kinh Pháp Cú. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ.
11. Vòng Luân Hồi. Tác giả: Tỳ Khưu Khantipalo, 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ (1994).
12. Thập Nhị Nhân Duyên. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1972.
13. Một Buổi Thuyết Trình Về Tứ Diệu Đế. Tác Giả: V.F. Gunaratna. 1973
14. Thực Hành Thiền Định. Tác giả: Phra Acharn Plien Panyapatipo. 1991
15. Giác Minh. Tác giả: Ngài Acharn Chah. 1992.
16. Hương Vị Giải Thoát. Tác giả: Ngài Acharn Chah (dịch trong đầu thập niên 1990).
17. Tự Quán Chiếu. Tác giả: Tan Achahn Kor Khao Suan Luan. 1992
18. Tiếng Vọng Từ Chân Tâm. Tác giả: Acharn Mahà Boowa.1992
19. Bài Học Nhân Một Đám Táng. Tác giả: Phra Acharn Mahà Boowa. 1994
20. Khéo Vấn Khéo Đáp. Tác Giả: Đ.Đ. Shavasti Dhammika. 1994
21. Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1995
22. Niệm Và Người Hành Thiền. Tác giả: Thiền Sư U. Pandita. 1995
23. Lợi ích Của Thiền Tập. Tác giả: Thiền Sư Acharn Tong. 1996
24. Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc Và Tuệ Minh Sát. Tác giả: Matari Sri Nànàràma Mahà Thera. 1996
25. Thiền Minh Sát. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 1997
26. Vi Diệu Pháp Toát Yếu. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1999
27. Chín Yếu Tố Chánh Giúp Tăng Cường Ngũ Căn Của người Hành Thiền Minh Sát. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 1999
28. Bốn Điều Không Thể Ngăn Ngừa. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 2000
29. Đời Sống Quả Thật Bấp Bênh, Vô Định - Cái Chết Sẽ Đến, Chắc Như Thế. Tác giả: Sri Dhammananda. 2001
30. Kinh Vô Ngã Tướng. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 2001
31. Ca Khúc Hoan Hỷ Giải Thoát Ra Khỏi Ngũ Uẩn. Tác giả: Acharn Mun Bhuridatto. 2001
32. Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo. Tác giả: Ledi Sayadaw. 2002
C. Băng ghi âm
1. Nguyên bộ lớn như: Đức Phật và Phật Pháp, Giác Minh, Hương Vị Giải Thoát, Tam Quy Ngũ Giới, Tự Quán Chiếu.
2. Khoảng 50 bộ nhỏ.
Bình Anson ghi chép,
Perth, Western Australia
Tháng 2-2003 (hiệu đính tháng 2-2011)

Sunday, February 27, 2011

Tin Vãng Sanh

Được tin Thân Phụ của các em Phạm Kim Ngôn, Phạm Kim Nguyên và Phạm Thị Nga là :

Ông PHẠM KIM KHÁNH
Pháp Danh: Sunanda

Sinh ngày 10 tháng 1 năm 1921
Đã mãn phần vào lúc 4 giờ 30 phút chiều  ngày 27 tháng 2 dương lịch nhằm ngày 25 tháng 1 âm lịch tại Seatle, tiểu bang Washington.
Hưởng thượng thọ 92 tuổi

Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam, thành tâm cầu nguyện hương linh :
Cụ ông PHẠM KIM KHÁNH
Pháp Danh Sunanda

Sớm được HOA KHAI KIẾN PHẬT

Đồng thành kính
Toàn thể Anh Chị Em cựu CHÁNH ĐẠO tại Hãi Ngoại và Việt Nam

Ý nghĩa lá cờ Phật Giáo

Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo




http://suoinguontinhthuong.vn/UserFiles/image/cophatgiao.gif


I. NGUỒN GỐC: Người phát họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Độ.

Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo.

Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những người đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Độ.

Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala người Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới.

Ông và bà Blavatsky thọ trì tam quy, ngũ giới với Thượng Tọa Bulatgama tại chùa Wijayananda có sự hiện diện của hàng ngàn chư Tăng, Ni, Phật Tử và gây xúc động mạnh mẻ cho những Phật Tử đã chứng kiến, vì đây là lần đầu tiên Giáo Hội Tăng Già Tích Lan làm lễ quy y cho hai người Phật Tử Âu Mỹ.

Sự nghiệp truyền bá và chấn hưng Phật Giáo của ông không thể nói hết trong khuôn khổ bài nầy. Ông đã tổ chức những trường học Phật Giáo khắp xứ sở Tích Lan, từ thành thị tới thôn quê hẻo lánh.

Số trường học lúc ban đầu chỉ có 46 trường (năm 1897) và 6 năm sau (1903), số trường học đã lên đến 174 trường, và đến năm 1940 đã có 429 trường, trong đó có 12 Trường Trung học được chính phủ tài trợ . Không chỉ riêng ở Tích Lan, ông còn vận động để mở các trường học Phật Giáo ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ.

Năm 1889, ông cùng Thượng Tọa Susmangala, Tích Lan, phỏng theo sáu mầu hào quang của Đức Phật (xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam và mầu tổng hợp của năm mầu này), đã phác họa ra mẫu cờ Phật Giáo.

Về ý nghĩa, ông phát biểu như sau : "Nó có thể được các quốc gia Phật Giáo chấp nhận như một biểu tượng quốc tế cho tín ngưỡng của họ, giống như cây thánh giá đối với tín đồ Thiên chúa giáo ."

Lá cờ này được Tích Lan công nhận và treo tại các chùa ở xứ này trong ngày lễ Phật Đản từ năm 1889, và 61 năm sau, tại Đại hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên, tổ chức tại Colombo, thủ đô Tích Lan, từ ngày 25-5-1950 đến 8-6-1950 có 26 nước tham dự (1), phái đoàn Phật Giáo Việt Nam do Thượng Tọa Tố Liên, Trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội làm đại biểu (2), Hội nghị đã thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists), và chọn lá cờ Phật Giáo Tích Lan làm cờ Phật Giáo Thế Giới.

Đến ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm, cố đô Huế, một Đại Hội Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam, gồm 51 đại biểu Tăng già và cư sĩ, sau 4 ngày họp, đã thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trong dịp nầy, Thượng Tọa Tố Liên đã tặng Đại Hội lá cờ Phật Giáo Thế Giới, và đại hội đã chấp nhận lá cờ nầy cũng là cờ Phật Giáo Việt Nam.

Bằng một tâm hồn thiết tha với Đạo Pháp, ròng rã suốt 38 năm, Phật tử Henry Steel Olcott đã dùng quãng đời quí báu của mình, để phục vụ tha nhân và ông mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, quê hương Đức Phật. Lúc đó ông 75 tuổi.

II. Ý NGHĨA CỦA LÀ CỜ PHẬT GIÁO
Cờ Phật Giáo, trước hết là biểu trưng tinh thần thống nhất của PhậtTử trên toàn thế giới. Cờ Phật Giáo còn tượng trưng cho niềm Chánh tín và sự yêu chuộng hòa bình của mọi người con Phật .

Ngoài ra, cờ Phật Giáo còn có ý nghĩa cắt bỏ quan niệm cố chấp các ranh giới địa phương, gia tăng niềm hăng hái đoàn kết để phụng sự cho Đạo Pháp và dân tộc.

Năm sắc theo chiều dọc : Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam, tượng trưng cho hào quang chư Phật.

Năm sắc theo chiều ngang ( chiếm diện tích 1/6 lá cờ ) là mầu tổng hợp tượng trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật. Ý nghĩa của màu sắc phân biệt là :

1.- Xanh đậm : Tượng trưng cho Định căn. Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn, sáng suốt .

2.- Vàng lợt : Tượng trưng cho Niệm căn, vì có Chánh Niệm mới sanh Định và phát Huệ.

3.- Đỏ : Tượng trưng cho Tinh Tấn căn. Có tinh tấn mới khắc phục được mọi trở ngại, nghịch cảnh .

4.- Trắng : Tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển, và có tín căn là có Nhân Duyên với chư Phật và nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành.

5.- Da cam : Tượng trưng cho Huệ căn. Khi có Tín, Tấn, Niệm, Định đầy đủ thì Tuệ sẽ phát sanh.

6.- Màu tổng hợp : Tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của Phật giáo đồ trên toàn thế giới.

II. KẾT LUẬN:
Là Phật Tử, chúng ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lá cờ Phật Giáo, vì trên hết, nó tượng trưng cho Phật Giáo, và cho tinh thần đoàn kết, bất phân biệt của tín đồ Phật Giáo trên toàn thế giới .

Ghi chú :
(1) 26 nước tham dự Đại Hội và trở nên Hội viên sáng lập Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế Giới là : Anh, Ấn Độ, Bhutan, Đức, Hawai, Hong Kong, Kampuchea, Lào, Mã Lai, Miến Điện, Mỹ, Na Uy, Nam Dương, Nhật Bản, Nepal, Pháp, Phi Luật Tân, Sikkim, Tân Gia Ba, Tây Tạng, Thái Lan, Thụy Điển, Tích Lan, Triều Tiên, Trung Hoa và Việt Nam.

(2) Phái đoàn Việt Nam chỉ có 2 người: Thượng Tọa Tố Liên -- đại biểu chánh thức, và ông Phạm Chữ -- công chức Bộ Ngoại Giao Quốc Gia Việt Nam, tháp tùng theo làm Thông dịch viên.

Minh Đức

Saturday, February 5, 2011

Chào đón chị Minh đến San Jose

Anh Đức vừa gởi hình chị Minh ở Úc đến thăm San Jose.
Chị Minh ngồi giửa mọi người, với khăn quàng cổ màu lam, và có con trai của chị nửa, người trẻ nhất trong hình.













Friday, February 4, 2011

Họp mặt Tất Niên và đón mừng anh Thọ
















Cám ơn anh Đức gởi một số hình chụp họp mặt Tất Niên và đón mừng anh Thọ ở nhà chị Yến.  Anh Thọ mặc áo thung màu trắng. Chị Hạnh mặc áo màu nâu tay ngắn.







Thursday, December 23, 2010

Các loại quả giúp giảm béo


Dưa chuột giàu vitamin C, các loại vitamin B và nhiều khoáng chất vi lượng. Xét từ góc độ dinh dưỡng, ăn sống dưa chuột là tốt nhất.

1. Đu đủ

Năng lượng: 27kl. Chất xúc tác protit ở trong đu đủ có thể làm cho chất béo phân giải thành axit béo, trong đu đủ còn hàm chứa một loại men có thể tiêu hóa protein, có lợi cho cơ thể tiến hành tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, vì vậy đu đủ có công hiệu khỏe tỳ, tiêu hóa thức ăn, đồng thời còn có thể trị phù thũng, bệnh hôi chân và cải thiện khớp.

2. Dứa

Năng lượng: 41kl. Dứa co dinh dưỡng cực kỳ phong phú,hàm chứa vitamin C, caroten, thiamin, niacin cần thiết cho cơ thể và các nguyên tố vi lượng dễ hấp thụ trong cơ thể như canxi, sắt, magie.

Dứa có thể giúp cho protein tiêu hóa, có thể phân giải các thức ăn như cá, thịt, thích hợp ăn sau bữa cơm.

3. Dưa chuột



Năng lượng: 15kl. Dưa chuột hàm chứa vitamin C, các loại vitamin B và nhiều khoáng chất vi lượng, thành phần dinh dưỡng ở trong dưa chuột rất phong phú, ăn sống cũng rất ngon, mát ruột. Xét từ góc độ dinh dưỡng, vỏ dưa chuột giàu chất dinh dưỡng, nên ăn sống là tốt nhất, nhưng nếu rửa không sạch có thể ở ngoài vỏ dưa chuột còn lưu lại thuốc trừ sâu gây tổn thương cho sức khỏe. Chúng ta nên ngâm dưa chuột ở trong nước muối 15-20 phút, sau đó mới rửa lại sạch và ăn sống. Khi ngâm nên để nguyên cả quả, không nên cắt hai đầu, để tránh dinh dưỡng bị mất đi trong quá trình ngâm. Ngoài ra, làm salat dưa chuột cũng nên ăn ngay, không nên để thời gian quá dài vì như thế cũng sẽ làm cho vitamin mất đi.

4. Cà chua

Năng lượng: 19kl. Trong cà chua chứa phong phú vitamin A, loại vitamin này bảo vệ mắt rất tốt và có lợi trong việc phục hồi da bị cháy nắng. Khi làm salat cà chua không nên cho đường, nếu không vị ngọt sẽ ảnh hưởng đến khẩu vị. Người béo phì, người bị tiểu đường, cao huyết áp đều không nên ăn món salat cà chua trộn đường.

5. Vỏ quýt khô

Năng lượng: 278kl. Trần bì chứa các thành phần như vitamin B, C, dầu bay hơi vv. Dầu bay hơi trong trần bì có tác dụng kích thích và làm ấm da dày đường ruột, có thể thúc đẩy dịch tiêu hóa bài tiết, trợ giúp tiêu hóa, bài trừ vị khí, còn có thể giảm bớt mỡ tích tụ ở vùng bụng.